
อุอุ
\Q U Ể\
Torazzz
Theongyn
NEVER TO HAVE BEEN
Anh không thích gọi đó là tình yêu – vết cháy râm ran từ đỉnh đầu xuống những ngón chân giống với mô tả của một cơn cuồng vọng nặng màu tính dục hơn những gì anh được những bậc thầy đã chết dạy về tình yêu
q u e e r
Vết cháy
Maik Cay
Ô nhiễm tiếng ồn
Tú Uyên
Chìm
Phan Hạnh Nguyên
Thanh Thanh ft R.
Gần cuối cơn mơ
Vũ Hương
rainbow tales on brown papers
Vũtopia
ĐI
Umi.Kt
wxx_xxw
Torazzz
The Sound Collection (i) - Ơn gọi
Maik Cay
Tiếng hát vẫn xa xăm, nhưng không còn trong suốt và xuyên thấu, nó đục dần rồi hòa vào làn hơi nước đang thấm lạnh người anh. Anh tiến mãi vào bóng tối, lòng vừa e sợ vừa rưng rưng. Ở phía cuối của con đường chia đôi đại dương, chắc hẳn anh sẽ chạm mặt thung lũng của cái chết.
Queer \ không phải Queer \ mà là tất cả chúng ta
Bặt âm đầy e lệ
cậu câm phải không
không, tôi không câm
một lần nữa
cậu bé buồn khổ thốt
Người đi dây
Memai69
Em rơi cho em
Ai sẽ ru tôi ngủ
Trong chiều dài vô phương
Con người chồng lên nhau
Những chiếc bóng lê thê
Vũ Hương
đàn ông rụng trứng - đàn bà phóng tinh
Những bàn tay
Trần Phú
Phan Hạnh Nguyên
Gửi ngàn dấu yêu
Voguer Tập Sự
Strike your Pose - Show your Queerness
Thánh địa tình hoài
Memai69
Rồi mình yêu nhau một thời, xa nhau một đời. Rồi mình thành Diễm và Không Diễm. Rồi Mình. Trèo. Lên. Phi. Thuyền. Đến. Đón. Trong. Một. Buổi. Tối. U. Huyền. Lao. Tới. Tương. Lai. Ở. Bến. Đáp. Đời. Nhẹ. Khôn. Kham.
Những sợi lông vũ lấp lánh
như những giọt sương mai
Đọng lại
để thế giới đừng tàn lụi
q u e e r
Bảo tàng lông
Maik Cay
Tôi nghĩ mình có thể ngồi đây mãi mãi, cho đến khi gục xuống mà chết, và vật chất của tôi sẽ hòa vào vật chất đã làm ra chăn nệm, hay sàn gỗ, hay bất kỳ nơi nào mà thân xác và lông tóc tôi rơi ngã.
hồn lồng
Vũ Hương
Thư gửi bạn
Ly T.Nguyen
Sự ngây thơ của tôi, thứ được tạo ra bởi sự xa cách thế hệ và thời đại giữa những đứa con lớn lên sau chiến tranh và những cha mẹ không kể nhiều về nó, đã hoàn toàn biến mất.
/seven of swords/
Chẳng một ai nghe
Tiếng mùa xa lạ
_summerskin_
Vũ Hương
Còn chúng ta bên ngoài vì sao với hàng vạn hàng trăm hàng ngàn lời hay ý đẹp, ngay cả việc rung động cũng không thể chân thành nổi?
Thảng thót cơn mê
Lạc loài máu mủ
Một giấc chiêm bao
Nhiễu phủ bầu thương
Những lá thư viết lúc năm giờ sáng
R.
Ở đây bóng tối lên đầy vốc tay
Memai69
Chỉ là bóng tối thăm thẳm tóc thệ giăng mắc tựa lửa đen lan theo dầu hỏa từ can xăng của bóng hồng ngăn cấm cũ. Chỉ thấy bóng tối, một mạng tóc. Trải thời gian vốn-dĩ-sắc-đen, ngày đen, tháng đen, năm đen, giờ đen, phút đen, giây đen, đêm đen, hạ đen,…
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
Hazel
Tôi ru em Hà Nội alternative version
Đăng Hiếu - Trần Minh
Tôi lại trở lại cái chốn quạnh hiu, làm tim mình đau đớn. Nhưng những cái chắc nịch trong tôi nào chịu ngồi yên, chúng cứ đay nghiến cứa vào tôi, bắt tôi phải có những đêm dài mất ngủ
Người giờ đã ngự khắp ngàn mây,
Còn tôi lạc lõng chốn đất này,
Một lòng mong hiểu lời dạy nhắc,
Tâm tình cõi sống dịu đắng cay…
\q u ể\
Vô đề
Hùng đốp
D o i t h o a i /
D i e t v o n g
Chu Thế Quân
อุอุ
Torazzz
Vết Cháy
Maik Cay
Nhưng Zarathustra lại cất tiếng hỏi,
điều độc nhất và tiên quyết
cần phải hỏi:
“Làm thế nào vượt bỏ con người?”
Zarathustra đã nói như thế
Sáng ấy, một sáng thứ Tư, vết cháy đã lan khắp người Tường. Đêm hôm trước anh mơ thấy Tùng Linh, hai người nói chuyện trên một bờ biển mà cả hai chưa bao giờ đặt chân tới. Nước biển xanh phi lý. Họ ngồi cạnh nhau trên cát ấm và nói những chuyện đến giờ anh không thể nhớ - có thể là về thời tiết, có thể là về lũ hải quỳ, có thể là về cãi mũi hay ngứa của Slavoj Žižek, có thể là về tình yêu đã sống và đã chết. Anh chỉ nhớ cảm giác nghẹn lại trong lồng ngực: vết cháy ở đó, cả trong giấc mơ, không buông tha anh. Gọng kìm của một cơn nhớ nhung quái gở bóp nghẹt Tường, dù trong mơ hắn ngồi ngay trước mặt anh, nụ cười vô nhiễm, ánh nhìn lơ đãng, cánh tay gân guốc và bờ vai rộng, con người phi thực của quá khứ phi thực. Một lúc lâu sau trong giấc mơ, tính ra đến một vạn năm dồn trong một hộp thiếc nhỏ con, dù có lẽ chỉ là hai cái đảo tròng mắt ngoài đời thực, anh thấy mình đứng trên một bờ vực cao nhìn xuống Linh. Hắn đứng đơn độc giữa biển, tấm lưng cuồn cuộn sóng thịt da giữa cuồn cuộn sóng nước biển. Hình ảnh quá phẳng dẹt, như một bức tranh khắc gỗ ukiyo-e, và nước biển quá xanh – thứ màu xanh như thể hút chặt sinh lực của người ta vào bản thể của nó, nhưng Linh là thật, với tấm lưng phát sáng như một ngọn hải đăng, và vết cháy mà tấm lưng đó in vào lòng anh là thật. Anh giơ điện thoại lên chụp lại khoảnh khắc đó, bất chấp tấm màn nhung tầm thường mà ảnh chụp phủ lên mọi khoảnh khắc phi thường.
Khi Tường tỉnh dậy, toàn thân anh đau nhức. Anh thấy mình như một người đã rất già, một người đi qua một triệu con đường trong một triệu cuộc mơ, một người uể oải như sự suy tàn của thành phố những buổi trưa thứ Hai ảm đạm, anh thấy mình bất toàn và anh nghe thấy vết cháy lan râm ran trên thịt da.
Ban đầu, vết cháy chỉ là một cơn đau họng rất nhỏ. Anh không chú ý đến nó, bởi anh vốn là một kẻ chẳng giỏi chống chọi gì với thời tiết. Anh ngậm gừng muối, trợn mắt lên nhìn màn hình máy tính trắng lóa trong lúc nuốt thứ lửa mặn chát trộn lẫn với vị cay xè hăng mùi đất, nhưng cơn đau không mấy thuyên giảm. Rồi anh nhận ra cơn đau họng chỉ xuất hiện khi anh nhắc đến Tùng Linh. Cái tên hắn trôi xuống cổ họng làm anh thấy nhói buốt.
Anh đồ rằng đó là lỗi của chữ Tùng – nó gợi một cảm giác gai góc, xù xì, giống như mặt tối của hắn – còn chữ Linh hẳn là vô tội – đó là một chữ dễ nuốt, trơn tuột qua lưỡi và vội vã lăn ngang thực quản như một giọt thủy ngân lăn qua thanh nhiệt kế thủy tinh – đó là ánh sáng dịu dàng của hắn. Nhưng sau đó, anh phát hiện ra chữ Linh thực ra lại là một con quái khó nhằn hơn hẳn chữ Tùng. Giống như thủy ngân, chữ Linh màu bạc và có ánh kim loại sáng bóng này đốt cháy tất cả những gì nó đi qua – nhất là những con đường thịt da mỏng mảnh bên trong cơ thể Tường. Đôi lúc nó làm anh thấy muốn bật cả tròng mắt ra vì đau đớn, nhưng đôi lúc nó nằm gọn lỏn trong dạ dày anh như một giọt thủy ngân đơn độc, tủi thân vì những cố gắng tuyệt vọng của anh để tảng lờ nó. Nó muốn anh luôn nhớ đến nó, nó muốn làn da và mái tóc anh bốc cháy vì nó, nó gào khóc như một đứa trẻ bất trị để anh phải hướng cái nhìn về phía nó, nó hành hạ anh và hành hạ anh và hành hạ anh, nhưng nó hiển nhiên không muốn anh chết. Nó muốn Tường sống trong một cơn cháy râm ran vĩnh cửu để nó có thể bất tử. Điều ấy, với Tường, là một bi kịch nực cười.
Nuốt cái tên cậu xuống làm họng tôi rát bỏng, Tường viết trong một lá thư không bao giờ gửi đi trên blog cá nhân của mình. Bài viết có 2 lượt xem. Anh thay ảnh banner đầu trang bằng một tấm ảnh chụp biển chỉnh tông xanh quá tay – không có màu xanh nào giống như màu xanh anh đã chụp được trong mơ, dù trong mơ anh đã coi khinh bức ảnh ấy. Giờ anh thấy tiếc vì chẳng cách nào tìm lại được màu xanh đó hay lưu trữ lại bức ảnh thất lạc giữa những cái đảo tròng mắt của giấc ngủ.
TL,
Nuốt cái tên cậu xuống làm họng tôi rát bỏng. Tôi không còn hoàn toàn nhớ lần đầu chúng ta gặp nhau, nhưng tôi nhớ những ngón tay cậu run run khi lướt trên cái cằm lún phún râu và gò má đanh lại khi cậu suy tưởng. Những ngón tay cậu quá dài, gần như một sự dị biệt về thể chất, nhưng cậu không biết chơi một loại nhạc cụ nào, thậm chí cũng không vẽ vời hay viết lách. Những ngón tay này biết cầm xẻng xúc đất về phòng thí nghiệm và biết gõ báo cáo về đủ thứ sai phạm công trình – cậu đã kể cho tôi nghe cái thời còn đi làm cầu đường, những buổi trưa nóng mẩn đỏ cả người vì nghỉ dưới gầm cầu, những đêm bão ngủ trong lán với vài ba người công nhân xây dựng, phải dậy giữa đêm để chọc cho nước đọng trên mái lán đổ xuống vì sợ lán sập, một buổi nhập nhoạng tảng sáng cậu hút thuốc và nghe tiếng con chim sớm hót thật cô đơn ở một chốn xa lạ cách nhà hàng nghìn cây số. Nhà ở rất xa sau lưng, cậu nói, hay trước mặt gì đấy. Cũng có thể không đâu là nhà. Những ngón tay cậu quá dài, cậu biết đấy, đáng ra cậu nên chơi dương cầm. Đôi khi tôi tự hỏi những ngón tay ấy đã đi những đâu? Trên những đại dương da thịt và tinh cầu cát bụi nào? Tôi tự hỏi những ngón tay ấy đã đi những đâu?
'Buổi sáng ở mũi Ibuno’ - Kawase Hasui (1931)
Sau giờ làm, Tường lang thang trong thành phố. Đã gần 8 giờ tối, anh đi dọc phố Lương Yên quạnh quẽ, nơi một ông chú xe ôm kể cho anh nghe người ta từng giết hàng trăm nghìn con lợn ở đây, trong khu lò mổ cũ của thành phố. Hồn ma những con lợn đó vẫn còn đây chứ? Nếu đứng dưới một tán cây ở phố Lương Yên chờ đợi không ai cả vào một chiều thứ Tư vô danh, rất có thể ai đó sẽ nghe được vài tiếng éc từ một thực tại-quá khứ nào đấy chăng? ‘Éc’ – anh lẩm bẩm trong mồm và thấy mình hòa vào dòng chảy của trăm nghìn con lợn nối đuôi nhau chậm rãi, ụt ịt hếch những cái mông hồng nhạt hôi hám trong một cuộc không-đào-thoát trước khi rơi xuống một hố sâu thăm thẳm.
Anh đi qua Nhà tang lễ Phùng Hưng. Một người bán hoa hỏi anh có cần mua vòng hoa, nhưng Tường chỉ lầm lụi đi qua. Anh sẽ mua vòng hoa cho ai nếu không phải chính mình. Anh dừng ở vườn hoa Yecxanh và ngồi trong bóng tối, lắng nghe tiếng bơi lội ồn ã của những nhà thể thao nghiệp dư đủ lứa tuổi vọng ra từ bể bơi Tăng Bạt Hổ. Đôi khi anh mơ về ngày bé, thời đã từng bơi ở một trong những cái bể dọc phố Tăng Bạt Hổ - có một lần anh chơi cầu trượt và nước ộc vào mũi quá mạnh làm anh chảy máu mũi ngay giữa bể bơi. Trong lúc các anh chị em họ bơi ì oạp và thách đố nhau đủ trò lặn ngụp, anh ngồi ở bể vầy cho lũ trẻ con nhỏ tuổi và ngửa mặt nhìn những đám mây trắng xốp bồng bềnh mùa hè bay qua đầu. Máu khô lẫn với mùi clo tạo thành một tổ hợp phức tạp những mùi không lấy gì làm dễ chịu hằn sâu lên vùng đồi hải mã của anh. Việc vượt thoát những ký ức tuổi thơ là một cuộc việt dã bất khả, trong đó, những đứa trẻ của những thực tại-quá khứ đã từng là anh và vẫn tiếp tục là anh nối đuôi nhau chạy đến một hố thẳm khôn cùng.
Buổi tối Tường về nhà, tắm nước lạnh và đứng trân trối nhìn cơ thể mình ướt đẫm dưới những tia nước mỏng lét của vòi hoa sen. Mùa hè đã khoác lên làn da anh một lớp men màu nâu dễ chịu, nhưng cơ thể anh không phải là thứ làm anh vui – những thớ cơ ngực đã bắt đầu hơi chảy xệ, vòng bụng ngày một lớn ra, cặp đùi dài buồn rầu, chỉ có cánh tay là vẫn còn phần nào khiến người ta mơ hồ cảm nhận về bóng hình còn lại của một cơ thể sung mãn. Ở Quy Nhơn, trong một lần đi cùng đám bạn và Tùng Linh, anh đã cố ghi nhớ cơ thể hắn – và giờ cơ thể ấy quay về với anh từ những khoảng đen mông lung của ký ức. Hắn đu người trên thành bể bơi vô cực, mắt đắm đuối nhìn những rặng núi đằng xa. Anh lấy làm hài lòng vì ở tư thế ấy, anh có thể đứng đằng sau mà ngắm nghía hắn trong lúc giả bộ rằng mình đang ngắm núi. Những cơ bắp cuộn lên gần như cục súc trên chiều dài 178cm của cơ thể hắn, đám lông đen dài chiếm cứ cẳng chân và cánh tay không khoan nhượng, xương quai hàm rắn đanh lại như bực bội mỗi khi hắn nhíu mày nhìn ra xa.
Tường đã khao khát điều gì? Hẳn anh không bao giờ dám mơ rằng cơ thể yếu đuối, thư sinh của mình có thể chiếm đoạt thứ năng lượng đang trực vỡ tung ra khỏi thành trì thịt da của hắn, hoặc hẳn là anh, chính anh, đã mơ như thế, về những trận pháo hoa trên bóng đêm của thành trì đó, những cuộc đột kích man dại với hàng nghìn mũi tên lửa chói sáng và những cỗ máy bắn đá trung cổ, những vó ngựa đạp lên mọi lối vào cổng thành, những lá cờ rách nát ám khói đen của thành trì thất thủ. Hay anh đi vào những giấc mơ ban ngày giản dị và ít biểu tượng hơn: một cuộc đụng độ bất ngờ nơi phòng thay đồ của bể bơi khách sạn, một tiếng gõ cửa lúc nửa đêm, một tin nhắn gọi anh đi dạo lúc sớm mai – bất kỳ giấc mơ ban ngày nào khả dĩ tạo một lối thoát cho niềm khao khát dằn vặt của anh.
Anh không thích gọi đó là tình yêu – vết cháy râm ran từ đỉnh đầu xuống những ngón chân giống với mô tả của một cơn cuồng vọng nặng màu tính dục hơn những gì anh được những bậc thầy đã chết dạy về tình yêu. Không thể nào có chuyện anh yêu gã trai trẻ măng thô tục này, kẻ chỉ biết cười khi xem những video cụt lủn của Žižek nhưng từ chối nói bất kỳ câu chuyện sâu xa hơn nào về chính trị và thực tại, kẻ hành nghề kỹ sư xây dựng và thường xuyên suy tư về những cây cầu – hẳn nhiên những cây cầu có chất thơ riêng của chúng – nhưng không phải chất thơ là thứ Linh có khả năng mang rước, kẻ đôi khi bực bội ghen tỵ vì các bạn bè riêng nào đó của hắn đạt đôi ba thành tựu tiêu dùng: mua một chiếc xe phân khối lớn, tậu một dàn âm thanh đắt tiền, hay phung phí cuộc đời vào những chai rượu đắt đỏ ở một quán bar sang trọng. Hắn không giống gì với tưởng tượng của Tường về đối tượng tình yêu, hẳn nhiên, hắn quá nông cạn, theo thiển ý của anh, và nếu nói rằng anh yêu hắn thì đó là một sự hạ phàm mà anh không gánh chịu nổi.
Nhưng không bậc thầy đã chết nào giải thích cho anh sự yếu đuối khi cơn cháy lan khắp bụng anh, nhưng con bươm bướm bằng tro với đôi cánh xám, chúng quá nóng và anh quá run rẩy. Hắn bơi sát về phía anh và nhảy chồm lên lưng anh cười sằng sặc, trong lúc anh tỏ vẻ chán nản và kẻ cả để những con bướm tro không vô ý thoát ra từ mọi cái lỗ trên cơ thể mình. Con quỷ. Con quỷ của dục vọng đã thiêu đốt hết ruột rà gan phổi của anh, và hóa thành những con bướm tro nhức buốt này. Hắn hét lên: “Sao ông cứ rầu rĩ như một thằng chết trôi thế nhỉ? Vui con mẹ nó lên chút nào anh giai.” Và anh gào lên trong sự câm lặng vĩnh hằng, tiếng thét nằm ngoài mọi tần số khả thính: bởi vì ta yêu mày, hỡi con quỷ địa ngục, vì ta yêu mày, vì tình yêu rút hết xương của ta và thiêu trụi tủy của ta, vì da thịt mày là một mồi lửa và hơi thở của mày là một luồng độc khí, vì mày là cái ác và đường trượt của ngón tay mày trên cơ thể ta vẽ nên biên giới của một lãnh thổ phi luân. Anh dìm Tùng Linh xuống làm hắn sặc nước, đôi cánh tay chắc khỏe cuộn lấy người anh như một con trăn. Anh nhắm mắt lại và ước mình có thể giết chết hắn bằng đôi tay trần trụi này. Anh mở mắt ra và hắn đã ngoi lên mặt nước, cơ thể ướt đẫm in lên ráng chiều đỏ như máu đằng xa. Hắn lại cười vang, giả bộ vả nhẹ vào mặt anh. “Thằng khốn này!” hắn nói, hổn hển, và Tường, quy hàng.
Hiển nhiên, có những ngày vết cháy dường như không còn là một khả thể của hiện hữu. Những ngày anh bận rộn trong vòng chuột chạy của xã hội tư bản – khi anh là một mã số nháy đèn xanh đỏ trong hệ thống nhị phân - một tay quản lý tầm trung sáng cắp cặp đi tối cắp cặp về với những cuộc điện thoại và tin nhắn liên tu bất tận trên nhóm chat công việc. Những ngày cuộc đời quá tối và quá lạnh, đến độ một vết cháy cũng không thể làm ấm thịt da. Những ngày Linh nói với anh về chuyện của hắn và H., người yêu hắn – không hẳn là nói với anh, Linh không phải bạn của riêng anh, mà là bạn của bạn anh, và họ chỉ gặp nhau khi cả nhóm lố nhố bạn bè đó tụ lại. Hắn ngẫm ngợi về chuyện kết hôn, sinh con đẻ cái, làm một công việc ổn định, về những cơn chán nản của việc sống cuộc đời công chức tầm thường (như anh), làm một ông bố tầm thường (rõ ràng là không như anh) và già đi (như anh và tất cả mọi thứ trên cõi đời này). Lúc đó, Tường cảm thấy anh và hắn chỉ là hai con ốc bình thường trong cỗ máy, hai kẻ bị điều khiển trong các xã hội tập trung điều khiển – anh đi làm và hắn cưới vợ, cả hai chia sẻ những toan tính thường nhật.
Anh không bao giờ ghen với H., hoặc có thể nói chính xác hơn là hiếm khi, vì nàng không hẳn là một tình địch mà giống như đại diện của những giá trị chuẩn tắc trong cuộc đời – thứ vốn dĩ không thể tránh khỏi phải tuân thủ dưới những con mắt giám sát khốc liệt của thế lực cảnh sát đạo đức. Nàng ở đó như một sự thật, dù hiểu sự thật theo nghĩa nào, một người đàn bà tóc ngang vai, cao gầy và có vẻ buồn tẻ rất chuẩn mực. Với anh, nàng chỉ là một người nào đó khác. Một nữ cảnh sát mềm, theo cách anh hiểu, người sẽ lèo lái cuộc đời Linh vào những con đường chuẩn mực. Khi nghĩ về nàng và hắn, lòng anh thường dịu lại, và anh dụi vết cháy đi như dụi lửa của một điếu thuốc sắp tàn.
Cũng có lần anh đã ngu xuẩn thử ngăn cản hắn cưới nàng. Nhưng đương nhiên, anh biết cố gắng đó là cực kỳ ngu xuẩn.
“Ông trẻ quá. Ông cũng đéo chắc rằng ông yêu người yêu ông, chí ít là yêu đến mức phải sống đời với nhau. Tại sao ông lại lựa chọn đi con đường an toàn trong khi có những con đường khác, rồi đến đây rên rỉ như một con chó đói. Một con chó đói cái cơn đói lớn, nhưng lại đi ăn một bữa ăn nhỏ về căn bản không bao giờ làm nó no. Ông phi lý vãi đái ra, ông hiểu không.” Anh gân cổ lên, điếu thuốc cháy dở chọc về phía mặt Linh đầy vẻ thách thức.
“Ô thì sao? Chẳng lẽ ông khá hơn tôi? Ông cũng chỉ là một thằng hèn với cái đời sống tư bản chó gặm của ông đúng không? Thôi thôi đừng nói với tôi về tiền, về nuôi bố nuôi mẹ nuôi thân hay gì. Ý tôi là, ờ, ý tôi là gì nhỉ? Là ông cũng thế, ông cũng đói cơn đói lớn và ông tru lên vì ông ăn toàn những thứ chó gặm để sống qua ngày. Ông đéo thể trách tôi được, vì ông cũng là một con chó ghẻ lác y như tôi.”
Điều hắn nói làm anh im lặng nhún vai. Tường chỉ muốn nói, đừng tuân phục thế giới và tuân phục tuổi già, đừng quay lại đây sau mười năm với một cái bụng phệ và cái trán hói bóng và những phét lác về tín dụng, tiền ảo, xe cộ, cổ phiếu, kỳ nghỉ du thuyền, xì gà Havana và những cô bồ làm vợ mày đau khổ. Nhưng anh có thể nói điều đó với chính anh, chỉ cần khác đi vài chi tiết. Anh biết họ sẽ ngồi đây sau mười năm, với những cái bụng phệ, với những bàn tay đã mỏi và đôi chân đã tuân phục thời gian, Linh sẽ nói về tiền, về vợ, và anh sẽ nói về địa vị, về những cuốn sách khó hiểu anh đã đọc và những nghệ sĩ anh đã gặp, cả hai sẽ vênh váo về sự tầm thường của đời mình. Anh hút nốt điếu thuốc trong lúc nhìn ra khu rừng sắt thép bê tông của thành phố nhợt nhạt này. Những ngày thứ Hai sẽ đến, và anh lẫn Linh vẫn sẽ đùa với nhau rằng mày không ghét thứ Hai mà mày ghét tư bản, rằng đến cơ quan phải tranh thủ đi nặng để lợi dụng ngược lại bọn tư bản, phải, hãy trét phân vào những cái hố mồm của tư bản. Nhưng những ngày thứ Hai vẫn sẽ đến như những cái bụng phệ của thực tại-tương lai không xa, và anh lẫn Linh sẽ đều giơ tay ra hứng lấy nó như những con chiên chờ nước thánh dưới giáo đường của đạo Tư bản. Tất cả những sự phản đối này có ý nghĩa gì? Anh mong rằng hắn sẽ thuộc về anh chăng, hay anh mong rằng hắn sẽ ngộ ra chủ nghĩa xã hội và tiêu hóa mọi thứ văn bản hậu cấu trúc hậu hiện đại mà anh vẫn đọc? Cả hai ý tưởng đều nực cười như nhau.
Song cũng hiển nhiên, anh mong hắn thuộc về anh, một cách phi lý và ngu xuẩn. Anh thường gặp hắn trong những giấc mơ – sau hơn ba mươi năm cuộc đời những giấc mơ cuối cùng đã trở thành một vùng lãnh thổ có đôi chút ý nghĩa với anh – vùng đất cấm của những cuộc hẹn bị cấm.
Có lần anh mơ thấy hai người đi với nhau dưới một cái hang ấm sực – thực tế là một cái hang thì không thể ấm sực được – nhưng trong giấc mơ nó lại ấm áp đến kỳ lạ. Hoặc đó là nhiệt độ tỏa ra từ anh và Tùng Linh – hai ngọn đèn-người trong bóng tối lạnh giá của một cái hang thực. Họ chẳng nói gì, nhưng Tường biết dưới cái hang đó, hắn phải lòng anh và anh phải lòng hắn – một sự biết rất kỳ khôi thuộc về phạm trù của niềm tin phi lý – Kierkegaard hẳn sẽ gọi anh là một hiệp sĩ của đức tin. Anh nắm tay hắn và chỉ có thế, nhưng niềm hạnh phúc dưới cái hang đó là hoàn toàn bất khả trong cuộc sống thực tại, dù anh có thể chiếm được hắn hay không.
Cũng có lần Tường mơ thấy anh và Tùng Linh là hai thằng học sinh trong một lớp học có đến hàng trăm học sinh – anh sẽ nói hình ảnh của họ trong mơ chính là ánh xạ của họ trong cái xã hội kỷ luật – hậu kỷ luật chán ói này – hoặc anh sẽ phải công nhận một thứ mơ ước ngu xuẩn được lùi lại mãi vào quá khứ. Cả bạn bè anh cũng hiện diện trong giấc mơ ấy, nhưng gương mặt họ mờ nhòe đi. Chỉ có gương mặt của Linh hằn rõ lên như có một chiếc đèn rọi vô hình mọc ra từ trên đầu hắn. Lớp học đó phải đi tản cư, vì chiến tranh, hoặc một thứ dịch bệnh đáng sợ nào đó, và tất cả phải nằm dồn lại trong một hàng lán trại tạm thời dựng bên trên đồi. Anh và Linh nằm cạnh nhau, tán dóc những chuyện đùa vu vơ, và rồi cơn mệt mỏi ập đến, anh nghiêng người ngã vào ngực hắn, bờ ngực anh đã nghĩ về nhiều đêm. Linh không còn hiện hữu nữa, thay vào đó, Tường rơi vào một vũ trụ tối om êm ái – bóng tối ấy ôm lấy anh, rìa của bóng tối là vòng tay vững chãi của hắn, nhưng chiều sâu của bóng tối khi anh cố nhìn vào bên trong lồng ngực hắn là vô tận. Anh bắt đầu bơi ếch trong bóng tối đó, hít đầy lồng ngực thứ khí êm như nhung của nó, vòng tay Linh siết lấy anh và hắn dựa cằm vào đỉnh đầu anh, từ nơi làn da hắn chạm vào mái tóc anh, một ngọn lửa truyền lan ra khắp vũ trụ tối và anh tưởng như mình thấy hết sự hình thành của những chòm sao và tinh vân, của muôn triệu mặt trời và muôn triệu triệu hành tinh khô cằn, của những sao lùn trắng và hố đen - vũ trụ giãn nở đến vô cùng – còn anh, anh chỉ là một kẻ quan sát đang bơi ếch một cách khoan khoái qua không-thời gian.
Rồi có lần anh mơ thấy con ngựa thành Turin. Linh là gã đánh xe cục mịch đang quất con ngựa tơi bời như thể nếu không quất nó đến chết thì chính hắn sẽ chết. Những giọt nước mắt to như quả quýt rơi lã chã khỏi cặp mắt hạnh nhân của con ngựa. Anh chạy đến ôm lấy đầu nó, khóc rống lên. Anh thấy thù ghét Linh như thù ghét chính thế giới này, nhưng anh cũng thương cảm hắn, như thương cảm con ngựa. Anh không nhớ giấc mơ kết thúc thế nào, cũng như anh không thể nhớ thế giới đã kết thúc thế nào. Có thể giấc mơ đã biến thành một cơn ác mộng, hoặc một trận bóng đè, như vẫn thường xảy ra với anh – đó là lý do vì sao trước Tùng Linh, anh ghét những giấc mơ. Nhưng dù thế nào, quả thực là anh không nhớ gì cả. Khi tỉnh dậy lúc 4h25’ sáng, anh bật bộ phim cùng tên của Béla Tarr lên xem. Anh vốn thích ông già này. Nhưng hôm ấy anh ghét cả Béla Tarr, ghét cả cách anh không thể quên Linh như cách một người không quên được bàn tay mình cả khi bàn tay đã cụt, nên anh tắt phim đi, không bật nhạc, không hút thuốc, chỉ nằm im trong bóng tối và cảm nhận sự trống rỗng của cuộc hiện tồn đắp lên anh như một chiếc chăn mỏng.
TL,
Bây giờ là 2h sáng thứ Năm. Tôi không còn có thể mở lời với cậu vì không biết còn gì để nói, và cậu cũng chẳng còn gì để nói với tôi. Có một vết cháy xẻ dọc người tôi. Hãy tưởng tượng một thanh kiếm ánh sáng. Hãy tưởng tượng một cuộc đấu – một Jedi và một Sith – cậu là Jedi và tôi là Sith, hoặc ngược lại, hoặc tôi là một Wookiee, tôi không biết nữa. Hãy tưởng tượng một triệu Stormtrooper mặc đồng phục màu hồng da lợn diễu hành để rồi lần lượt ngã xuống một cái hố tối. Tôi sẽ diễu hành trong quân đoàn đó. Tôi là kẻ duy nhất cầm cờ, lá cờ có in gương mặt cậu. Lá cờ đó sẽ bị hủy diệt, cũng như bản thể của tôi, dưới cái hố sủi rực acid xanh biếc. Cậu hẳn không tưởng tượng nổi đâu, nhưng tôi mong ngày đó sẽ đến.
Những ngón tay dài bất thường của cậu giờ đang làm gì? Tối hôm qua chúng đã nấu ăn hay rửa bát? Chúng có bóc một quả quýt hoặc gọt một quả táo hay không? Chúng có ngấm khói từ một điếu thuốc, hay giờ cậu đã bỏ thuốc rồi? Chúng có trượt đi trên bánh xà phòng, nhảy múa trên bàn phím hay luồn lách vào những cái hang trên cơ thể cậu (lỗ mũi, miệng, lỗ tai, tôi không cần tưởng tượng xa hơn)? Giờ thì chúng ở đâu? Hờ hững ngồi trên một phần cơ thể của một ai đó mà lý trí cậu nói rằng cậu yêu và cần? Hay thật cô đơn, co quắp, nằm trên đệm, như một kẻ chờ đợi vô vọng, mà không biết mình đang chờ đợi điều gì? Những ngón tay cậu giờ đang làm gì? Tôi có thể tìm thấy chúng ở đâu?
Sáng ấy, nửa đêm về sáng thứ Năm, vết cháy đã thu gọn thành một mũi giáo ấn xuyên qua người Tường. Anh về nhà, say và chán chường. Cuộc rượu để lại trong anh một khối rì rầm phiền nhiễu như một đàn ong vô hình giữa hai tai. Những con người đó, những chuyện ngày qua ngày không có gì thú vị hơn đó, hôm nay Tùng Linh đi vắng nên không tham gia, hắn bảo hắn mệt, những thứ thức ăn tầm thường của cuộc đời tầm thường đó, đáng ra hắn nên báo sớm hơn để anh cũng từ chối cuộc gặp, nhưng không, những ly rượu như ly thuốc độc đó, anh nhìn mọi chiếc ghế trống và hình dung Linh có thể đã ngồi vào một trong số chúng, những chiếc ghế nhựa xanh đỏ không người ngồi bẽ bàng đó, và anh, anh một mình trong một cơn lạnh đến tận xương tủy, cơn lạnh của việc làm người. Cảm thấy cần phải báng bổ thần linh, anh ngật ngưỡng đến bên bàn thờ, gạt đổ bình hoa huệ, vớ một chai Vodka Hà Nội xuống và tu một mạch. Cơn buồn nôn đến thật nhanh. Anh tóm lấy một cuốn sách từ trên giá sách cao nhất xuống, vẽ nhằng nhịt lên bức tranh Adam và Eve trên bìa cứng, nhổ nước bọt vào giữa sách rồi bắt đầu nôn thốc nôn tháo. Quỳ rạp giữa đống vật chất bị lộn trái lênh láng bốc mùi từ dạ dày mình, anh thấy mình thật kinh tởm và dớ dẩn. Anh muốn khóc rống lên như một con chó đói khát và ngu xuẩn đã ăn nhầm cả một túi đinh, nhưng anh không sao khóc nổi. Anh định chọc kéo vào giữa bụng mình, rạch một đường dài theo vết cháy, và lôi cái túi đinh mà mỗi chiếc đinh là một cái tên của Tùng Linh ra khỏi bụng mình. Nhưng khi ấn lưỡi kéo vào thịt, anh chợt nhớ đến việc buổi chiều thứ Sáu anh có một cuộc họp với Hội đồng Quản trị của công ty. Với tình trạng này, anh vẫn có thể nghỉ làm sáng thứ Sáu, và xin đến vào lúc 1h chiều. Ý nghĩ thê thảm và rất thực tế ấy làm anh dừng lại.
Tường ra ban công hút thuốc, rồi tự dưng thấy tỉnh đến nỗi anh lại vào dọn dẹp đống bừa bãi trong nhà. Chẳng hiểu mình nghĩ cái mẹ gì, như một thằng say cùng quẫn, anh lẩm bẩm và thấy buồn lòng về mình. Anh nghĩ về Tùng Linh, anh nhớ những lần ngồi cạnh nhau không cần nói gì, anh nhớ cái lần anh cõng hắn cả một quãng dài khi hắn say, và râu cằm hắn cọ rát vào sau gáy anh, anh nhớ đôi giày bốt màu đen sờn cũ hắn vẫn mang, anh nhớ những cái cười riêng tư cho những câu đùa riêng tư mà hiếm hoi chỉ anh và hắn hiểu, anh nhớ mái tóc mà anh chưa một lần chạm tay và bàn tay mà anh luôn tìm kiếm trong vô vọng, anh nhớ tấm lưng trần cuồn cuộn sóng thịt da giữa cuồn cuộn sóng biển. Một giấc mơ – không phải một giấc mơ – một giấc phản mơ thiêng liêng và trần tục – một kinh chú được phản tụng niệm và tái tụng niệm – một đứa trẻ có làn da bằng lửa sinh ra từ một trái câm của thứ không được phép gọi là tình yêu.
Tường mở cửa nhà, rồi đi mãi đi mãi vào trong bóng đêm. Những đường phố quá dài, như bộ lòng ruột của một con ngựa khóc những giọt nước mắt to bằng quả quýt, hoặc những ngón tay chới với của một bàn tay mà giờ này không biết đang làm gì, hoặc như một ẩn dụ-phản ẩn dụ của mọi thứ trong đời. Tường mơ hồ nghĩ rằng, anh sẽ phải đi hết những đường phố đó.
NEVER TO HAVE BEEN
Theongyn
mèo đen
Hoà lẫn vào góc tối nhất của con ngõ nhỏ
Lặng lẽ ăn một miếng rác thừa
Quay ra nhìn gã
Dè chừng
Chỉ có ánh mắt của con mèo rực sáng
Rồi nhận ra gã cũng đang nhìn lại nó
Vô hại
Tiến về phía nhau
Dò hỏi
Một con mèo hoang
Một gã lang thang
Một kẻ bị ruồng bỏ
Một người chẳng nhân thân
Họ lặng lẽ nhìn nhau
___________________________________________
Cách giao tiếp của những kẻ gần kề lối thoát.
UNTITLED
Đời là vòng xoáy
Người là con quay
Đời buông lời ngọt
Người ngậm cơn say
/
Biết bao giờ đủ
Những quả những vàng
Người quay quên nghỉ
Đời cũng chóng tàn
/
Ai buông lời mạt
Ai bỏ người đi
Liệu còn quên nghỉ
Để đời trôi đi?
*
ngữ
Ngữ
Đi ra từng chữ
Dù sai hay đúng
Chúng
Nhanh như đồng xu khi lật
(Ta)
Có thể sống tiếp hay chật vật.
What you say matters
Mắt cây
Mầm cây nhỏ
mở mắt giữa màn đêm
Người đi qua
hối hả
Mưa xối xả
Cây muốn ươm
dù chỉ một chồi lá
Mà tại sao
gió lay mãi chẳng ngừng
“Giá như mình chưa từng mở đôi mắt”
Nó nghĩ thế
rồi nhỏ giọt sương mai
Rồi ngày mai lại đến
Mưa vẫn vậy
Gió vẫn lay
vẫn bước chân chẳng dừng
Nhưng mầm cây giờ đây đã lớn
và vầng lá đã mướt một màu xanh
Cây nuôi mầm
Cây ôm vầng dương ấm
Cây gom những than khóc
thành phân bón cho chồi
Năm tháng ấy
rồi cũng sẽ qua thôi
Và nếu như cây chưa từng mở mắt
…
Hoá thân
Tác phẩm được lấy cảm hứng từ truyện Hoá thân (Die Verwandlung) của tác giả Franz Kafka.
Đi
Umi.KT
./.
Tôi có một người tình
Nàng viết vạn bài thơ
Những bài thơ trong mơ
Chẳng thể ngừng than khóc
Tôi đến cạnh người tình
Chạm vào môi vào tóc
Nhìn sâu vào những góc
Âm u lạnh bụi mù
Và tôi cùng người tình
Đọc vạn ngàn bài thơ
Vừa đọc vừa nằm mơ
Vừa nằm mơ vừa khóc.
./.
Và cứ thế, một đường rơi xuống
Xuyên qua không khí xuyên qua mây
Xuyên qua những điều không mong muốn
Xuyên qua những ngày tay nắm chặt tay
Va chạm không ngừng
Rơi. Rơi. Rơi
Quá nặng để bay
Không đủ say cho ảo tưởng
Tưởng rằng đang đùa - đang rong chơi
Ai xô ta xuống vực sâu?
Ai đẩy ta vào bóng tối?
Ai khiến tim ngừng nhịp sôi nổi?
Ai vừa lạnh lùng trên đôi môi?
Ai nói gì ta mà một đường rơi
Một đường chơi vơi?
./.
hắn gõ cửa lúc nửa đêm
lặng chờ người mở
một khe hẹp,
một khe hẹp
hắn vào cùng hơi sương
hắn thở ở bên tai
lạnh xuyên sương thấu cốt
nỉ non lời tình tự
“cùng đi… cùng đi…
vào bóng tối…”
tay run tay nắm chặt
cùng đi…
mình đi
vào bóng tối
./.
một buổi chiều
tôi đi tìm yêu
hắt hiu đèn đường sáng
mây buồn thiu ngập trời
chỉ tìm được chơi vơi
một kiếp người
tôi đi tìm yêu
cô đơn qua thật nhiều buổi chiều
vạn ngàn ngày đêm, ngàn vạn mộng
lạc đường
giữa chiều lạnh mênh mông
./.
sợ. không.
ta có quá nhiều bất an
giấu trong lòng không nơi tỏ rõ
sẽ ở những chiều một mình qua lối nhỏ
chực chờ xông ra
những bất an đã hoá thành hồn ma
chết vì ta nhảy lầu trong giấc mộng
chết vì ta lao xuống một dòng sông
của những chờ mong hoá thành thất vọng
ta không sợ nỗi cô đơn
vì đã sinh ra từ nó
nhưng giữa những ngày không rồi lại có
suy tư nhiều, trầm uất, lòng liêu xiêu
ta sợ thời gian trôi, mình lại sống quá dài
những bất an giấu trong lòng vẫn mãi
không ốm mà rên vẫn chân thành cảm động
vai hề vai buồn - tự chia hai
Ô nhiễm tiếng ồn
Tú Uyên
Bặt âm đầy e lệ
Memai69
người ta hỏi cậu bé
cậu câm phải không
không, tôi không câm- cậu bé nói, từng chữ
họ giận
lại một lần nữa
cậu câm phải không
không, tôi không câm
một lần nữa
cậu bé buồn khổ thốt
một người thầy của thuyết hư vô
ra vỗ vào người cậu, tay ông không run
nhưng cũng chẳng còn độ ấm nào
đường nào thế giới này chẳng về với hư vô
có khi nó chỉ là một cục
cứt mũi
trôi nổi đâu đó trên đường băng của vũ trụ này
đường nào cũng thế
cớ sao cậu không nhận
là mình câm
...
vì tôi còn muốn mang những bông hoa
gói vội trong giấy báo
kẹp bức thư viết trên
giấy pơ luy này
cậu đỏ mặt
đem tỏ tình với cậu/kə̰w˨˨/ cô/ko˧˧/ người/ŋɨəj˨˩/ hàng xóm ở phía bên
˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩
˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩˨˨˧˧˨˩ kia giậu gai
tôi-không-câm
Tranh: Vũ Hương
Gửi ngàn dấu yêu
Vũ Hương
Tôi đặt hàng họ một thứ sâu kín và riêng tư
Một lá thư không người nhận
Một lòng ân hận một dòng nước mắt
Bên dòng sông ấm những đứa trẻ nô đùa
Như những chú khỉ khanh khách cười
Những tiếng thơ giòn giã
Đôi hàm răng thưa chói loá
Lạch bạch dàn bước chân hồ hởi
Sột xoạt áo sống tung bay
Tóc mướt mồ hôi tí tách
Óng ánh theo dòng nước xiết
Rồi bóng tối tràn bờ đê
Rồi máu đỏ cũng khô đen
Rồi chợt nhận ra rằng
Không có gì quý giá bằng ánh sáng trong những đôi mắt biếc
Xin hãy tắm nhau trong nắng sớm
Xin hãy hát cho nhau những lời thơ
Xin hãy tặng nhau hàng ngàn dấu yêu
Xin đừng xé cánh thiên thần
Hãy thả họ bay đi
Dù là miền xa xôi nào đi nữa
Dù không phải bên ta
Vì không gì bằng từng đàn thiên sứ tung cánh về trời
Tắm dòng sông tối bằng cơn mưa rào
Những sợi lông vũ lấp lánh
như những giọt sương mai
Đọng lại
để thế giới đừng tàn lụi
wxx_xxw
Torazzz
Strike your Pose - Show your Queerness
Voguer Tập Sự
rainbow tales on brown papers
Vũtopia
Thánh địa tình hoài
Memai69
‘cho tới bây giờ vẫn mộng thấy quả thật đã bay cao quá cao và máu có vị của sắt’
X đã đọc được câu ấy ở một đâu đó, có thể là một dòng diêm dúa ịn lên bức tường trong một triển lãm đương đại nào đó của tộc đồng nghệ sĩ trong vùng chăng? Hắn gọi nghệ sĩ là lũ tộc đồng. Hắn gọi Ngân là tộc đồng thất lạc.
X là một người không có danh tính cụ thể trong câu chuyện này. X thấy tên X không cần vang lên trong lỗ tai của bất kỳ ai để làm rộn họ làm gì. X chỉ là một chữ cái tạm bợ đâu đó nằm bét ở cuối bảng chữ cái có thể tay điếm bút đang dùng để phỉnh phờ với bạn, không cần mắc công nói đến X bằng một cụm dài thòng đầy bổ ngữ, định ngữ vì nó phiền phức còn hơn bầy chó sủa nhặng. X cho rằng bản thân mình thiếu đáng kể đến như vậy đấy.
Vậy X ở trong câu chuyện này như một lá gan biết kể chuyện.
Dù chuyến xe đưa X đến với Ngân chỉ mất có hai tiếng đồng hồ vỏn vẹn, hoặc ít hơn nếu X chọn nhằm xe của một bác tài có tay lái bất hảo không kém gì đám học sinh bất hảo vẫn kéo lê những lon ống ở đuôi xe chúng lè vè bên ngoài cổng trường. Khoảng thời gian để co và giãn khoảng cách vật lý giữa hắn và Ngân ngắn tới vậy (hắn còn không dám so với những tộc đồng có thể cách nhau cả ngàn đại dương), nhưng đã phải khá lâu rồi, X còn không thể nhớ nổi là bao lâu, hoặc nói chính xác, là hắn vờ vịt không muốn nhớ, không buồn nhớ. Hắn sợ chỉ khẽ nhớ thôi là buồn tủi quằn quại khắp thân người, là động vào một cánh cửa sẽ bật tung ra bao miền ký ức mà hắn nguyện muốn chôn vùi theo toàn bộ cơn đau thể xác. Để nơi có chúng sẽ hoàn toàn trở thành một phế tích. Ít có ban nhạc nào muốn đến diễn nơi một phế tích.
Tay X đầy những dấu mưa rơi tạo ra bởi lưỡi manh xe lam còn lạnh hơn cả trái tim Ngân.
Ngân từ nhà chùa ra gặp hắn với một khuôn mặt ngọc hơn bao giờ hết, hẳn bầu không khí sạch sẽ chốn thiền tịnh không lấm bụi trần này đã càng mơn trớn vỗ về da Ngân và làm nó sáng lên như một viên ngọc trắng không tì vết. Hắn bắt đầu thấy chân mình không còn chạm đất mấy, não bộ không sai khiến được cái miệng mở ra chào Ngân, cái miệng ngày thường vốn đã không mau lẹ gì cho cam bởi sầu buồn thường trực đè xuống nặng trĩu đôi vai làm răng X lúc nào cũng cắn chặt.
Điều khiến X còn bối rối hơn cả là vào thời khắc này, luồng xung động mạnh bạo rõ ràng đối nghịch với cảnh chùa chiền lảng bảng sương khói, đang chực đẩy hắn quay trở về làm con người ngày đầu gặp Ngân, và trong cơn bị kéo giật về ngày xa xôi trong ngăn tủ ký ức này, hắn tự hỏi là Ngân có đang ở trong cùng một trạng thái giống hắn. Nhập cảnh để quay trở về làm tộc đồng ngày đó của hắn. Ngân ơi.
Ngân ơi. Hắn và Ngân quen nhau cũng bởi hai chữ này, được ngân lên cao. Lúc đó trong khuôn viên Đại học Nghệ thuật Cao Lãnh, hắn cố gọi tên người bạn làm bài tập nhóm cùng mình đang ở gần bồn phun nước mê mải nói chuyện với một nhóm người lớp khác. Nhưng người ngoảnh lại không phải bạn hắn, mà là Ngân.
Ngân thời sinh viên bảo với hắn, tớ không biết cụ thể là thế nào đâu, tớ chỉ biết vào một lúc nào đó Bà Trời đã thì thầm xuống tai tớ rằng, có lẽ tớ là một người Chăm thất lạc. Tớ cần tìm cộng đồng người Chăm thất lạc. Ngày nào tớ cũng luẩn quẩn quanh bồn phun nước này, hôm thì chuyện trò rôm rả, hôm chẳng chuyện trò với một ai. Tớ cần nghe ngóng xem tộc đồng thất lạc của tớ đang ở những đâu trên nền đất trầm trọng đang nhức điên lên như một cái chân què này.
X nghĩ nếu đổi lại là người khác mà không phải hắn, lúc nghe thấy những tâm sự đấy có lẳng lặng về viết một lá thư tuyệt giao với Ngân, vì lí do “Cậu là một kẻ ấm đầu, tránh xa chúng tôi ra!” không?
Nhưng Bà Trời cũng khẽ thần giao cách cảm với hắn vào thuở mông muội lạc bầy đó, hắn dám chắc, vì X đã đáp lại Ngân bằng tất cả ngây thơ mà con người của một tộc đồng có thể trao cho nhau. Bằng tất cả kiến thức về người Chăm gom góp trong đầu sau những lần đi workshop của vùng, sau một khắc bão não vội vàng, mồm miệng hắn còn chưa bao giờ được bôi dầu trơn như thế trong đời, nó nói với tốc độ miệt mài, nào là người Chăm họ có ba linh hồn, một ở xương đầu ngón tay, một ở vùng rốn, một ở xương sọ sau đầu, vân vân mây mây, hắn và Ngân hai mình đã vút lên một quãng trời nào đó để cùng xoải cánh, và máu có vị của sắt, có vị của sắt, để níu lại Ngân đứng đây dưới bóng hoàng lan với hắn.
Rồi mình yêu nhau một thời, xa nhau một đời. Rồi mình thành Diễm và Không Diễm. Rồi Mình. Trèo. Lên. Phi. Thuyền. Đến. Đón. Trong. Một. Buổi. Tối. U. Huyền. Lao. Tới. Tương. Lai. Ở. Bến. Đáp. Đời. Nhẹ. Khôn. Kham.
Lúc này là bến đáp đời nhẹ khôn kham. Khuôn mặt ngọc của Ngân chiếu vào hắn như một ngọn đèn polo, X bỗng thành trung tâm sân khấu. Lúc này đây dưới sự bảo trợ ánh sáng từ ngọn đèn trối trân kia, X là diễn viên chói sáng nhất.
Ngân bắt đầu cất giọng nói như một người cầm bức thư tuyệt mệnh của bản thân lên diễn thuyết trước nhau. X tẩm ngầm như thể được diễn vai còn lại, vai đối diễn cho vai của chính mình trong phân cảnh gặp gỡ ngày xưa, cái ngày ai ở dưới tán hoàng lan đó cũng là tộc đồng người Chăm thất lạc. Sau một phen hội thoại đó họ còn mở chung trang và gầy ra một cộng đồng những người giống như mình. Trang của họ đã ngừng cập nhật từ vài năm trước. Giọng diễn thuyết bây giờ như lời cáo chung sẽ được đăng lên trang sau khi các thành viên nghe xong và đồng thuận.
/đầu là thư
“…Tôi từng được yêu người tôi yêu nhất. Ngày đó, tôi luôn vui trong vòng an toàn. Nhưng khi đứng ở mép của cái vòng đó, khi người ngoài kia và những cửa miệng của họ tì sát vào mép cái vòng an toàn của tôi, thì tôi lại nơm nớp hoang mang. Cuộc sống này là một đoạn trường trốn chạy. Tôi chạy tới đâu? Tôi có thể chạy tới đâu? Lúc chúng ta kết giao, tôi những nghĩ tôi và anh có thể nên nghĩa nên tình bền lâu bất kể trời đất sụp đổ. Tôi có lẽ đã chắc mẩm rồi dần dà con người có thể quen với cái khung nhân tạo đó, có thể tìm thấy thanh thản cho đến cuối cùng, hoặc ít nhất, tôi nhủ thầm, không để bị thứ vô hình nọ nuốt chửng. Nhưng tôi tiếc thay, lại không phải một cá nhân như vậy. Sự tình bị nén xuống ấy của tôi chỉ càng chứng minh, tình yêu trong những cảnh huống đặc biệt sẽ biến con người ta thành rồ dại. Và rơi vào trường hợp của tôi, căn bệnh đó lại càng nghiêm trọng lên gấp bội lần. Tôi bị chính nó nuốt chửng, chỏng gọng trong dạ dày của con quái vật xù xì bự chảng. Hàng ngày mỗi khi mặt trời lên tôi lại đã đang ở trong trạng thái sẵn sàng tan biến vào biển a xít nơi dạ dày con yêu quái, quá trình tiêu hóa tôi, phân rã tôi-đó lặp lại hàng ngày. Tôi không biết mình đã bước qua những cảnh trí nào. đó là những đêm đầy nước mắt. đó là những đêm bước qua màn mưa. không có tình yêu của em. tình yêu của em. để làm khô đi những giọt nước mắt. để chấm dứt những đêm mù quáng. để chí ít không lạnh lẽo dù cuối tháng mười hai đắp một lớp chăn mỏng quèn. để môi đừng khô đi vì buồn. nhớ môi ái nhân đến điên. nếu đêm nay em không trả lời tôi sẽ ra sao nữa đây. em đã quên tôi rồi ư. đã quên tôi rồi ư. Tất cả chúng ta, anh-tôi-em đều đã văng ra ngoài biển xa như xác loài sứa dạt theo từng lớp sóng. Ôi giờ đây, tôi ở đây. Thứ rồ dại mà êm ái vô cùng tôi gọi là tình yêu vĩnh viễn nằm trong nếp gấp thời gian. Bởi tôi đã ở đây.” Như một câu thần chú Ngân tự ếm lên người mình, cô nhắc đi nhắc lại việc, cô đã ở đây.
Có thật nó đã nằm vào nếp gấp thời gian?
/…khúc này trong tai X như những tiếng loa rè… rè… rè… rẹt/
“...còn nhớ những món ấy không? Đến nhà tôi và bảo thầy me tôi mở cửa, đi thẳng lên phòng tôi ở áp mái. Vẫn còn nhiều lắm, cầm về hết đi. Tôi chưa vứt đi gì cả.”
Từng lời của em như một sự hoàn trả gì đó mà có lẽ chính em không hề có ý đó dù chăng là mảy may. Nhưng trong tôi, mọi kỷ niệm đang tự bật về lại chính tôi. Quay trở lại nơi nó bắt đầu. Bởi chưng nó vốn có thuộc nơi em? Chỉ là em như một tủ để đồ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu, sân bay hay ga tàu. Làm gì có thiên tai hay nhân tai, tủ để đồ này luôn đáng tin và trả lại đồ cho bạn, gọn ghẽ. Tủ để đồ này luôn dửng dưng.
“Ồ, xin đừng nghĩ quá nhiều. Tôi biết có thể trong đầu anh đang chạy những dòng suy nghĩ để tự làm đau bản thân anh. Cái bản chất đa cảm của anh tôi sao còn không rõ. Nhưng cầm về đi, cầm về hết đi. Đó mới là chỗ xứng đáng của những món đồ, kể như anh có chôn vùi hết chúng đi. Tôi nay đã là người ở đây, để chúng tại căn áp mái nhà tôi cũng chỉ như bỏ bẵng chúng.”
Thấy X câm lặng, cô nói tiếp.
“Là tôi phụ anh. Tôi không biết bù đắp sao cho anh mà kể. Là tôi phụ anh khi người tôi yêu thương là cô tình nhân trong tập ảnh loã lồ giấu ở một góc riêng tư nhất trong nhà tôi. Tôi chưa từng nghĩ sẽ vứt nó đi đâu kể cả khi qua lại với anh. Tôi là người ích kỷ. Tôi chạy lên đây rồi, chỉ còn anh ở đó với tấm lòng bị cào nát...”
Cô còn nói mãi, lời nói chảy ra như suối chảy, nhưng như thể X đang ở tít đầu bên kia của con suối, tiếng nói của cô không đến được tai hắn.
If love is a sin. Hắn nguyện trong đầu, ‘Tôi yêu em. Tôi yêu em lắm. Bằng tình yêu mà tôi sẽ chúc phúc cho em để kiếp sau em được đến với người em yêu. Ở một nơi chốn mà em không cần phải tìm đến người như tôi để ôm ấm ức đau khổ.”
Người X lả xuống, cô đỡ lấy hắn, sờ khắp thân người gầy gò của hắn để kiểm tra xem hắn có ổn không. Nhưng mãi tới lâu sau, người hắn vẫn run rẩy không thôi.
Tranh: Hà bon92
Đàn ông rụng trứng - đàn bà phóng tinh
Trần Phú
Những bàn tay
Phan Hạnh Nguyên
Queer \ không phải Queer \ mà là tất cả chúng ta
Người đi dây
I. Thoạt kỳ thủy
Có phải chúng ta sinh ra từ bụi sao?
Những tỉ năm trước
Hư vô cựa mình
Chui vào khuôn thước Titan nên hình
Hình của số Một của màu xanh non
“Vâng”
của tình yêu độc nhất
của đứa con hoang mù lòa chân thật
Có phải chúng ta sinh ra từ bụi sao?
Nhưng ai?
Ai đã ganh tị
Ai đã phải kháng
Ai đã nói “Không” Nhưng ai?
Ai đã đóng gông đóng cùm
trên người Titan
Ai đã vấy màu bản nguyên bằng những
cam
vàng
đỏ
tím
Ai đã lấy số Một
mà bẻ làm Hai
Ai lấy số Hai
đập thành trăm ngàn mảnh nhỏ nữa
Có phải chúng ta sinh ra từ bụi sao?
Những tỉ năm sau
Tiếng “Vâng” im bặt
Tiếng “Không” mở lời
Nhưng chỉ là lời còn trong trang sách
Mọi lời nghe được
Rối rắm lạ thường
Mọi lời nghe được
Chỉ toàn khóc thương
Có phải chúng ta sinh ra từ bụi sao?
Những tỉ năm sau
Bụi sao vắt qua bụi cỏ
Bụi sao phủ trắng bụi cây
Bụi sao hòa tan bụi nắng
Bụi sao phủi lớp bụi đường
Bụi sao vùi trong bụi đất
Bụi sao lặng giữa bụi lời
Có phải chúng ta sinh ra từ bụi sao?
Hay bụi sao / mọi chúng ta / là
II.Khởi hành
Cốc cốc cốc
- Ai gọi đó?
- Ai hỏi đó?
- Tớ cũng đang tìm đây
- Tìm gì?
- Tìm tớ /trong tính nữ/
- Ở xương sườn của cậu ấy
- Đúng rồi, nhưng xương sườn của tớ ở đâu?
- Đi thôi, đi tìm xương sườn của cậu
III. Giữa sương mù của thế giới
Bụi cát đùn lên mù mịt. Tiếng gào thét hòa lẫn tiếng nhạc. Tiếng ngân nga của khách đường xa.
Nơi đây, trung tâm của mọi trung tâm. Chốn dung thân của những qui phạm vững chắc và khô cằn.
Nơi đây, chẳng một giọng nói nào được quyền cất lên. Người ta nhìn nhau tìm nhau trong những bản sao thứ cấp. Người ta chăm chỉ nhặt nhạnh những đền đài chữ nghĩa. Tất nhiên chữ /tự do/ là quan trọng hơn cả. Vì chỉ có /tự do/ mới đủ lớn để xây đền đài cho bằng ấy con người. Sau này, vì người cứ nhân mình ra mãi, họ lại phải tìm thêm chữ /hạnh phúc/ nữa. Đền đài theo đó mà mở rộng.
Ở đền đài của /tự do/ và /hạnh phúc/ ấy có hai loài thống trị: loài đực và loài cái. Loài đực tìm mình trong /bản sắc/, /chắc chắn/ và /chính thống/, trong /ánh sáng/, trong /mặt trời/. Loài cái tìm mình trong loài đực.
Không phải đền đài, đó là ngục tù. Thiên thần nói. Chúng tự xây ngục tù cho mình bằng /tự do/ và /hạnh phúc/.
Thế là thiên thần rũ cánh đọa mình nơi trần thế. Mong rằng những giọt nước mắt của lòng thương sót có thể hóa thành mưa rửa sạch mọi bụi bẩn chốn này. Hóa thành nước phù sa tưới tiêu cho mọi vùng đất khô cằn. Hóa thành sóng biển cuộn lên cuốn phăng đi mọi ngục tù.
Dù có phải khóc cạn. Thiên thần nói.
Ngày lại ngày. Giữa sương mù của thế giới. Thiên thần cần mẫn gỡ đi từng viên gạch. Gạch của đền đài. Của ngục tù. Của tất cả những gì có cấu trúc. Nhưng mỗi viên gạch được gỡ ra luôn xếp lại với nhau thành một mê cung khúc khuỷu. Mỗi cấu trúc vừa được giải lại tức thì sản sinh ra vô vàn cấu trúc mới phức tạp hơn. Thiên thần tiến về phía trước. Bỏ lại lạc lối ở con đường chảy ngược về sau.
Loài đực và loài cái vừa bước vào mê cung thì chẳng thể tìm nổi đường ra. Chúng lang thang. Giữa trùng trùng điệp điệp những sương mù. Chẳng nhìn thấy nhau. Chúng giao phối đẻ ra các loài mới. Có loài nửa đực nửa cái. Có loài chẳng đực chẳng cái. Có loài chẳng biết đực cái mấy phần. Giữa trùng trùng điệp điệp những loài. Có loài cất lên giọng nói đầu tiên. Thiên thần nghe thấy chép thành điệu hát. Về sau điệu hát ấy cứ ngân mãi ở trong trùng trùng điệp điệp điệp những tầng tầng lớp lớp của mê cung.
IV.Hoan ca
Ta gọi ngươi
Những loài câm nín
Ta gọi ngươi
Những góc lặng thinh
Đã đến lúc thoát khỏi u minh
Và cất tiếng nói
Đến lúc phải tô thêm những màu trói lọi
Đến lúc phải bừng cháy
Để soi tỏ những loài xa lạ
Những loài nằm giữa đực và cái
Cả những loài nằm trên đường biên đực cái
Đã đến lúc phải vẫy lên ngọn cờ
Của sự tìm kiếm
Của đa dạng Của bình đẳng
Đã đến lúc để ta
Tự hào
V. Tiếng khóc
Luồn qua khe lá trần trụi, luồn qua dòng sông, qua con suối, qua những ngọn núi, những đám mây cũng trần trụi, điệu hát mời gọi mọi tâm hồn tù túng nhất cởi bỏ áo quần để đi tới miền đất hứa, nơi điệu hát bắt đầu, loài đực và loài cái ríu rít kéo nhau tay trong tay nhảy múa vũ điệu hoan lạc cùng tiến vào mê cung, rồi đây mọi loài sẽ đều cất tiếng nói trong điệu hát, /tự do/ cũng sẽ cởi bỏ áo quần, ngay cả ở những góc sâu kín nhất của mê cung, những góc tăm tối nhất, nơi trú ngụ của những kẻ lạc loài, điệu hát cũng có thể tìm tới được, duy chỉ trừ một nơi, tâm hồn chúng, những kẻ lạc loài.
Những kẻ lạc loài không biết hát, không biết nói, không có tiếng nói, không hiểu tiếng nói, bởi vì đó là tiếng nói của đực và cái, kẻ lạc loài không có phần nào thuộc về loài đực, không có phần nào thuộc về loài cái, cũng không thuộc về cả cái không đực không cái, âm thanh chúng thốt ra được chỉ rặt là những tiếng rên rỉ khóc thương, nó cũng luồn lách qua những khe lá, qua những dòng sông, con suối, những ngọn núi, đám mây, cũng tìm đến mọi ngóc ngách của mê cung,nhưng chẳng một ai nghe thấy, các loài đực cái và cả loài không đực không cái còn đang mải miết chìm đắm trong điệu hoan ca.
Tiếng khóc này thật thảm thiết làm sao. Thiên thần nói.
Thế là thiên thần ngoảnh lại, bấy giờ mới nhận ra mọi nỗ lực của mình thật hoài công.
Phần vụ của ta, trước khi dỡ bỏ mọi ngục tù to lớn, là phải làm im bặt mọi tiếng khóc bé nhỏ, thế mà ta lại mải mê với những điều vô ích giả ngụy này. Thiên thần nói.
Lần thứ hai, thiên thần cần mẫn gỡ đi từng viên gạch của mê cung do chính mình dựng nên, để tìm cho ra nguồn cơn của tiếng rên rỉ oán than, và học từ những sai lầm trước đó, thiên thần nuốt vào trong mọi thứ gạch đá, bụi bẩn, gông xiềng mà mình thu lượm được, mỗi bước đi lại thêm một nặng trĩu dưới đôi chân.
VI. U ca
Ta gọi ngươi
Trong bế không lời
Ta gọi ngươi
Gánh nặng khôn vơi
Ta ở đâu giữa đời đực cái
Hôm nay hay ngày mai
Sẽ nhẹ bớt đi
Khỏi nhọc đường dài
Ném bớt đi
Những gạch đền đài
Và đổ hết đi
Mọi chén bi hài
Những gì còn lại
Sẽ chẳng
bỏ sót một ai
Nhưng ngày mai
Biết bao giờ tới
Khi đêm trường cứ ngân mãi điệu sầu ai
Khi mặt trời cứ cựa quậy mãi mà chẳng thể thắp sáng nổi cánh cổng mê cung Cổng của số
Hai tội lỗi
Cổng mở ra những đực và cái
Nhưng không chỉ những đực và cái
Còn cả thiện và ác
Đúng và sai
Tình yêu và thù hận
Khô và ẩm
Nắng và mưa
Cao và thấp
Thiêng và phàm
Ta của trước đây và ta của sau này
Ta ước rằng chỉ có chuyện đực cái
Ta ước rằng chỉ có chuyện của ta
Nhưng đây là chuyện của tất cả chúng ta
VII. Sụp đổ
Không phải lối này. Thiên thần nói. Lạc lối giữa những ngã rẽ liên tục phân nhánh thành vô vàn ngã rẽ khác.
Không phải người này. Thiên thần nói. Bối rối trước những loài được đẻ ra từ loài đực và loài cái, và những loài được đẻ ra từ con của loài đực và loài cái.
Không phải âm thanh này. Thiên thần nói. Quay cuồng giữa hỗn độn của những tiếng nói tiếng hát tranh nhau cất lời.
Lòng đau chân nặng. Thiên thần cứ lang thang vất vưởng như một bóng ma không thể siêu thoát ở chốn mê cung. Bất lực trước những lầm lỗi của bản thân. Một ngày thiên thần không thể tiếp tục chịu đựng nổi sức nặng của thế giới đã khụy gối xuống và bắt đầu bật khóc. Ban đầu chỉ là những tiếng thút thít nho nhỏ, tiếng khóc mỗi lúc một lớn rồi cuối cùng òa lên nức nở. Nước mắt thiên thần bấy giờ mới thực sự hóa thành một cơn sóng cuộn lên rung chuyển trời đất, phá tan tất cả mọi nẻo đường. Tiếng khóc hóa thành tiếng sấm át đi mọi âm thanh trần tục. Các loài đực cái hoảng sợ kéo nhau chạy trốn. Nhưng chẳng có nơi nào cho chúng ẩn náu được cả. Vì chúng chỉ có thể chạy chốn ở trong thế giới, và nước mắt thiên thần thì đã lấp đầy thế giới, phá vỡ nó từ bên trong.
Khi đã khóc cạn, thiên thần ngẩng mặt nhìn lại thế giới. Chẳng còn thế giới nào nữa. Xung quanh chỉ toàn những ngổn ngang lăn lóc của các bộ phận rời rạc. Những cánh tay không có vai, những cái cổ không có đầu, những chiếc mũi không ở trên mặt. Cả những chiếc quai không gắn vào cốc, những tay nắm không ở trên khung cửa, những chiếc nắp, những vòn xoáy trong chiếc nắp, những chiếc kim đồng hồ, những giờ phút giây, những lỗ hổng trong chai lọ, những nếp gấp,... tất cả đều ngổn ngang lăn lóc. Những thứ vô nghĩa. Những thứ không còn có thể tạo nghĩa. Cơn sóng đã cuốn đi mọi cấu trúc tạo nghĩa của thế giới này. Thế giới trở về với hư vô.
Không, thế giới đã tiến đến hư vô. Thiên thần nói. Không phải hư vô ban đầu mà là hư vô cuối cùng. Không phải hư vô của sự không có gì mà là hư vô của sự có quá nhiều. Một thứ hư vô mới, một thứ hư vô là kết cục tất yếu của cái thế giới thảm thương này. Thứ hư vô của Khải Huyền.
Ngổn ngang và lăn lóc.
VIII. Ở bên ngoài thế giới
Nhưng bấy giờ, khi thế giới đã không còn nữa, tiếng khóc của kẻ lạc loài vẫn tiếp tục vang vọng. Ngày một rõ ràng hơn
Ngày một gần hơn
Thiên thần cúi xuống
Giữa những ngổn ngang và lăn lóc
Giữa vũng nước mắt còn loang dưới chân
Thiên thần thấy một dòng máu nóng chảy ra từ tử cung của mình
Khi ấy thiên thần mới nhận ra rằng
Tiếng khóc kia không chỉ là tiếng khóc thảm thương
Của những gì đã mất
Mà còn là tiếng khóc mừng vui
Của một đứa bé mới chào đời.
XI. Chờ đợi
- Cậu đã tìm thấy xương sườn của mình chưa?
- Tớ không tìm nữa
- Vì sao?
- Vì chỉ khi tớ ngừng tìm kiếm, xương sườn mới có thể tìm thấy tớ
Chìm
Phan Hạnh Nguyên
Em rơi cho em
Vũ Hương
Ai sẽ ru tôi ngủ
Trong chiều dài vô phương
Con người chồng lên nhau
Những chiếc bóng lê thê
Mà chỉ dành cho nhau
Những hồi đáp cộc lốc ngắn ngủi
Chẳng có một nơi nào
Chừa chỗ cho một lời
Ủi an vô nghĩa
Thì tìm đâu một chốn
cho em
cho em
cho em
Thư gửi bạn(*)
Ly T.Nguyen
(*)nhan đề giống từ một tập sách của nhà văn miền Nam lưu vong Võ Phiến, cuốn sách đầu tiên được xuất bản tại California, Mỹ trong giới người Việt lưu vong, chỉ vài tháng sau ngày tháng tư định mệnh.
Bạn thân mến,
Đã lâu rồi tôi không viết thư, hoặc ít nhất là một lá thư tôi biết chắc sẽ có người đọc. Nếu phải thú nhận, tôi sẽ nói rằng tôi hơi e dè chuyện phải ngồi xuống và nói thật. Bởi vì nếu không nói thật thì chúng ta ở đây làm gì, có phải không? Viết một lá thư không ai hỏi, có lý gì mà lại nói dối? Chính bởi những câu hỏi này, mà tôi trong một thời gian dài đã dừng hẳn viết, cư xử cứ như thể tôi không phải đã là một đứa trẻ được cứu sống bởi ngôn từ. Tôi có một thời viết và đăng trên mạng liên tục, dù là truyện, thơ, hay nhật ký, nếu ai là người đọc cũng ít nhất biết rằng tôi còn sống và vẫn có những nghĩ suy. Nhưng rồi vì bận viết luận văn, tôi không còn viết thêm gì nữa. Chắc bạn cũng muốn biết xem đời tôi giờ ra sao. Cảm ơn bạn vì chờ đợi. Bởi vậy, chúng ta ở đây.
Hãy bắt đầu với những gì tôi chưa kể trực tiếp với bạn về cuộc đời tôi nhé. Tôi đã chuyển sang thành phố mới rồi, không còn ở bờ Tây nước Mỹ nữa. Một thập kỉ qua tôi đã sống ở miền Nam California, tám năm ở thành phố San Diego vùng biên giới nối với Mexico, một năm thành phố Irvine cách đó hơn một tiếng lái xe về phía bắc. Năm cuối cùng, tôi chuyển đến Tiểu Sài gòn ở Orange County, một trong những thủ phủ của người Mỹ gốc Việt, được gây dựng bởi những người ngày xưa rời khỏi Việt Nam tha hương sau 75. Giờ người Việt ở đây có nhiều người hơn thế, người nhập cư, đi theo đường công việc, học hành, đi theo dạng hôn nhân. Tôi bây giờ cũng là một người như thế. Khi rời Việt Nam, tôi nghĩ tôi sẽ sớm trở về. Nhưng giờ tôi nghĩ chắc tôi sẽ ở hẳn đây. Một ý nghĩ khiến tôi thực sự do dự.
Nói thật là tôi muốn kể cho rõ ràng, nhưng cái tính của tôi cũng ngại để cho người khác biết rõ lòng mình, bạn biết đấy. Nên chỉ vắn tắt là sau mười năm học hành nghiên cứu ở bờ Tây tôi đã kiếm được việc làm và chuyển sang thành phố Minneapolis ở miền Trung tây. Nơi này khác hẳn với California về mặt dân số, dưới Cali người châu Á đông hơn nhiều, người dân Mỹ Latinh chủ yếu là người Mexico, nhưng tôi cũng gặp người El Salvador; ở Minneapolis đông người da trắng, người da đen, người Bản địa, người Nam Mỹ, còn châu Á thì hầu hết là người Hmong - cũng là dân tị nạn sau chiến tranh Việt Nam. Dân họ sống bên Lào hồi trước 1975, rồi vì muốn quyền tự trị nên đồng ý đi lính cho CIA giúp Mỹ quản đường biên giới Việt-Lào để chống lính Bắc Việt hành quân vào miền Nam. Khi hết chiến tranh, họ phải bỏ xứ mà đi vì bị càn quét bởi bên thắng cuộc. Lúc đó, ở Minnesotta, những người nhập cư gốc Scandinavi theo đạo Lutheran đã tài trợ cho rất nhiều gia đình người tị nạn Hmong sang định cư ở đây. Bởi vậy thành phố Saint Paul, ngay cạnh và còn được gọi là “thành phố song sinh” với Minneapolis, là nơi có cộng đồng người Hmong lớn nhất nước Mỹ. Cũng có người gốc Hoa và gốc Việt, nhưng người châu Á nào tôi gặp ở chỗ làm cũng đều là người Hmong.
Bạn thấy không, tôi chỉ muốn kể chuyện về cuộc đời tôi thôi, mà tự nhiên cũng phải nêu ra những thông tin như vậy. Tôi tự hỏi, nếu tôi không nói về những yếu tố lịch sử chính trị như vậy để kể về mình, liệu những suy nghĩ của tôi có thể chia sẻ được không? Mọi mặt của hiện thực, tiềm thức, hay trải nghiệm của tôi, đều đã bị định hình bởi những yếu tố đó rồi. Tôi ước câu chuyện đời tôi dễ kể, những diễn ngôn gọn gàng về quy trình sống của những người như tôi, ví dụ “Con A sang nước ngoài học kiếm được việc làm lương cao ở lại lấy chồng đẻ con thi thoảng lại về thăm gia đình.” Thật gọn gàng, những giả định về giới tính, quốc tịch, giai tầng người ta dễ dàng buộc lên nhau để chuyện đời nhau trở nên dễ kể. Thực ra tôi nghĩ ba mẹ tôi cũng ước đó là câu chuyện của đời tôi. Nhưng tôi cứ nghĩ đến hình ảnh đó lại rùng mình. Tôi thà chẳng thuộc vào diễn ngôn nào còn hơn là phải làm hiện thân của cái vọng tưởng dị tính ấy.
Bạn có nghĩ nhiều về căn tính bản thể không? Nếu phải định nghĩa, thì đó là một thứ nhân hình chung được thiết lập bởi những hệ thống xã hội quanh ta, ảnh hưởng bởi những trào lưu lịch sử, nhưng lại rất riêng tư bởi những nhóm thể, cá nhân mà ta chọn để phán ảnh cái tôi của bản thân mình. Kể từ ngày tôi rời khỏi Việt Nam đến bây giờ, chưa có một ngày nào trôi qua mà tôi không nghĩ về nó. Từ lúc thế giới quan của tôi mở rộng bởi những người tôi gặp, hay sự hiểu biết về lịch sử dẫn đến việc tôi muốn nhìn tất cả những người tôi gặp như là những đại diện thời đại của riêng họ. Cả bạn nữa. Những thứ lịch sử đã mài ta thành những thước những nét những đường, từng ngấn trên cơ thể chúng ta đều đến từ những sản sinh nhồi nhét của cả một thế giới đầy gắn kết, không gian và thời gian. Những gì chúng ta gánh trên lưng và những con đường chúng ta di chuyển.
Trong những năm đầu ở Mỹ, khi phải xác định một căn tính cho bản thân, tôi trốn vào cái không gian mơ hồ của danh xưng “người nước ngoài” hay “sinh viên ngoại quốc” bởi vì tôi không hiểu tại sao tôi dám nhận rằng tôi là người châu Á, khi những nước trên châu lục này tôi đã đi chỉ đếm đủ trên đầu ngón tay. Tôi không biết một ngôn ngữ châu Á nào khác ngoại trừ tiếng Việt. Nhưng nằng nặc rằng mình là người Việt hay đến từ Việt Nam cũng thật là kì lạ, lời giới thiệu này giống như một lời tự thú của kẻ phạm tội nơm nớp chờ mình bị bắt qủa tang. Không ai nói với tôi rằng khi đến Mỹ đột nhiên chúng ta sẽ phải học cách nhìn nhận bản thân bằng đôi mắt của những người vốn không ưa sự tồn tại của chúng ta ngay từ đầu. Ngày xưa, Frantz Fanon, một nhà tâm lý xã hội học và chống thực dân đến từ đảo Martinique Pháp thuộc, đã viết về cảnh một đứa trẻ da trắng người Pháp ở Paris chỉ vào ông mà la “Tiens, un nègre!” Sự thức tỉnh về mặt chủng tộc, về sự đen không phải chỉ màu da, đã bị nhấn vào ông như một vết nhơ bởi đứa trẻ da trắng. Ông viết:
“Và rồi chúng ta được trao cơ hội để đối đầu với ánh nhìn của người da trắng. Một sức nặng quái lạ đè lên ta. Thế giới thực thể cướp phần chúng ta. Trong thế giới (do) người da trắng (làm chủ), một người [đàn ông] da màu gặp khó khăn trong việc xây dựng lược đồ cơ thể của bản thân. Hình ảnh cơ thể của họ chỉ mang tính phủ định. Đó là hình ảnh ở ngôi thứ ba. Xung quanh cơ thể ngự trị một bầu không khí bất định nhất định. ”
Sau đó, ông giải thích thêm rằng người da màu như chúng ta, trước ánh nhìn người da trắng—những người không thể chỉ chấp nhận sự tồn tại của chúng ta như một điều dĩ ngẫu mà cứ bắt buộc phải định nghĩa ta như một cái gì khác họ—không bao giờ đứng với tư cách một cá thể. Chúng ta sẽ luôn chỉ là những nhân ảnh mờ mờ họ dựng lên từ trên cái palimpsest đầy những hình họ viết vẽ về tổ tiên và nền văn minh của chúng ta. Điều đáng sợ là, tôi hiểu những gì Fanon nói, ngay cả khi tôi là một người nữ gốc Việt sinh ra sau khi mọi sự đã qua—không còn thực dân, hay chiến tranh—chỉ bởi vì tôi sống xung quanh hậu duệ của đứa trẻ đã chỉ tay vào mặt Fanon mà buông từ thoá mạ chủng tộc, những người với suy nghĩ tương tự đã trở thành nhân tố chính và được ưu ái trong xã hội Mỹ.
Nếu bạn hỏi, cái gì là thứ thay đổi nhất khi tôi rời khỏi Việt Nam, tôi sẽ trả lời là cách nhìn.
Sự ngây thơ của tôi, thứ được tạo ra bởi sự xa cách thế hệ và thời đại giữa những đứa con lớn lên sau chiến tranh và những cha mẹ không kể nhiều về nó, đã hoàn toàn biến mất. Tôi nghĩ nó đã biến mất cái giờ khắc mà tôi học được cách xác định căn tính của bản thân từ những phạm trù văn hoá, xã hội, chính trị — như là “người nữ nhập cư đến từ Đông Nam Á” hay “người nữ Thế Giới Thứ Ba” hoặc “thế hệ hậu chiến thời mở cửa.” Tuần trước, tại trường đại học tôi dạy, tôi đã phải dùng cả ba căn tính này để mua vui cho những nhà tài trợ đã đóng góp quỹ xây dựng khoa của tôi. Họ là những người Mỹ đã lớn tuổi, gốc là người nhập cư từ Thuỵ Điển, Na Uy — thuộc nhóm Scandinavian hồi 1850 du nhập hàng loạt đến Minnesota vốn là đất của Dakota Oyate (đất nước của người Dakota), bị ép buộc phải nhượng gần hết theo Hiệp ước Traverse des Sioux năm 1851. 35 triệu mẫu đất được nhượng với giá 12 cent một mẫu, tổng cộng $3,750,000 trả dần — món tiền mà người Dakota chưa từng nhận. Người Dakota chỉ được giữ lại được một mảnh đất khoảng 20 dặm gần sông Minnesotta, trong khi toàn bộ đất của họ được mở ra cho người nhập cư da trắng tới định cư. Ngày nay, cộng đồng người Dakota chỉ còn 1% tổng dân số, nhưng chiếm tới 15% dân số người lang thang, không nhà ở. Bạn thấy không, cái mị lực và lịch sử của “tài sản,” thứ chỉ có thể tích góp được từ thế hệ này qua thế hệ khác ở đất Mỹ này nhờ vào việc cướp bóc của một số nhóm người và nhượng cho nhóm khác. Những nhà tài trợ với khoản hàng trăm nghìn đô họ đóng góp cho các trường đại học, sẽ tạo công ăn việc làm cho những người như tôi, và cái bản tính sắc tộc, màu da, giới tính, nguồn gốc của tôi dường như trở thành một hoá đơn biểu tượng cho việc người da trắng đã và đang tìm cách “san bằng” những nợ nần lịch sử họ tạo ra với những người da màu.
Khi được hỏi đến về câu chuyện của bản thân mình, tôi đưa cho họ một “diễn ngôn gọn gàng” khác, lần này là tôi đứa trẻ sinh ra trong thời hậu chiến ở Việt Nam muốn mở mang thế giới quan và được truyền cảm hứng bởi sự nổi loạn văn hoá và chính trị bởi những nhà hoạt động xã hội từ những năm 1960s— từ cuộc vận động phản chiến, vì quyền bầu cử cho người da Đen, cho sức mạnh tập thể của người da màu, phong trào xã hội của sinh viên gốc Á ở Mỹ— bởi vậy nên tôi đang ở đây, dạy lớp học về chiến tranh Việt Nam, lịch sử nhập cư người gốc Đông Nam Á, giới thiệu khái niệm về chủng tộc và giới tính. Khi nói ra những lời như vậy, tôi không ngại mồm bởi vì tôi biết sự hiện diện của tôi nếu được thuật lại như vậy sẽ cho họ cơ hội để thấy mối liên quan với tôi. Căn tính của tôi phải là những dòng mô tả chi tiết để người Mỹ có thể đọc và hiểu được; tôi phải là một thứ có-thể-biết-được. Họ sẽ biết tôi.
Bạo lực làm sao, việc phải đặt tên cho sự tồn tại của bản thân mình bằng thứ sẽ gợi nhắc cho những người Mỹ trắng, cả đàn ông lẫn đàn bà ngay cả những nhà nữ quyền, về cái tội ác chính phủ của họ đã gây ra. Đó là cái cách họ nhận dạng chúng ta, bạn biết không? Là người Việt Nam hay người Đông Nam Á hay người ở Thế giới thứ ba sẽ chẳng có ý nghĩa gì mấy nếu cuộc chiến ở Việt Nam không rầm rộ như vậy, không gây làn sóng chống đối đến vậy. Đó là cuộc chiến giết chết nhiều thanh niên Mỹ trắng, bởi vậy sự phản đối mới nhiều và được chấp thuận như là cuộc chiến mà người dân Mỹ có trách nhiệm. Khi Mỹ giúp các nhà độc tài ở Nam Mỹ lê máy chém khắp El Salvador và người dân họ cũng phải bỏ xứ mà đi hồi cuối 1970 và đầu những năm 1980, xã hội Mỹ đâu có coi họ là dân tị nạn, hay nạn nhân chiến tranh do Mỹ gây ra. Cái danh người El Salvador chẳng có ý nghĩa gì nhiều đối với người Mỹ, nhưng Việt Nam với họ là một nỗi đau âm ỉ, day dứt và dai dẳng và ngấm ngầm, một nỗi đau tôi phải tuyên bố và ghi nhận mỗi lần tôi mở mồm nói về chiến tranh Việt Nam. Thú thực, nỗi đau của người khác thật dễ dàng hơn để nói, bởi vì tôi không muốn phải đại diện nỗi đau tập thể nào. Bản thân tôi vẫn chưa quen phải đếm lại những hình ảnh bạo lực vô bờ đã được ghi nhận lại bằng các nhà nhiếp ảnh được nhận đủ loại giải thưởng quốc tế khi họ lưu chụp những khoảnh khắc cuối cùng bị phá huỷ của những cơ thể Việt. Hãy tưởng tượng xem, trong ý thức hệ mơ hồ của người Mỹ, cơ thể nữ Việt Nam là thứ bị đốt trần, bắn thủng, làm nhục, hay là nữ giải phóng quân chống đế quốc, hay là gái điếm quầy bar. Nếu thực sự tôi phải tiếp cận hay chạm vào những kiến thức này, gần đủ để mà cảm nhận nỗi đau ấy dù chỉ một chút thôi, cũng là quá thể. Tôi không đủ sức, bạn ạ, cái gánh nặng căn tính mà tôi phải mang trên lưng khiến cuộc sống lúc nào cũng chống chếnh. Giống như đi một đôi giày trượt patanh chưa cài dây mà cố đứng vững trên cái sàn trơn trượt.
Những lúc như vậy, tôi nghĩ, sự queer của tôi đã bảo vệ tôi khỏi bao nhiêu thương đau. Tôi nghĩ bản thể queer của tôi là bức màn duy nhất ngăn chặn việc tôi gia nhập cái palimpsest đầy những hình vẽ về thân phận người nữ Việt Nam, bị tạo ra chính xác là bởi chiến tranh rồi đột nhiên trở thành sự thật duy nhất được công nhận về cái cách họ tồn tại. Tại vì, ít nhất tôi có thể bảo vệ bản thân khỏi việc bị lĩnh hội như vậy — bằng cách chọn cho mình một đời sống nơi những người vẫn dùng cái palimpsest đó để đánh giá “người nữ gốc Việt” không cách nào ghé tới. Trong thế giới queer bé nhỏ và hơi cô độc của tôi, từng cá thể một là một sự lựa chọn kĩ càng; sự hiện diện của họ phải là điều gì đó chữa lành—dù là họ đối với tôi, hay tôi đối với họ. Gia đình và thế giới của tôi được tuyển chọn, hãy nói vậy đi, được tạo dựng bởi tôi và những người chia sẻ quan điểm và thế giới quan với tôi, những người chia sẻ mong muốn được tồn tại chung với nhau một cách đầy trách nhiệm. Ở nơi đó, tôi được an toàn.
Hãy nói chuyện queer đi, sau cùng thì đó là lý do tại sao chúng ta ở đây có phải không? Có lẽ bạn cũng muốn biết, sau cùng đối với tôi thì queer có nghĩa gì. Đây cũng là điều tôi muốn nói từ lâu, và nghĩ rằng nó đáng được nghe. Lần cuối cùng chúng ta còn liên lạc, tôi chỉ là một người luống cuống tìm cách đặt tên cho cảm xúc của riêng mình - bởi bạn biết đấy, sự ngây thơ tin tưởng vào tính nhân văn toàn cầu của cảm xúc con người đã bị thay thế bởi những danh xưng tôi học cách dùng trước ánh nhìn của người da trắng. Sự queer của tôi lúc đó vừa riêng tư vừa vô nghĩa, nó chỉ là cảm xúc và mối quan hệ có thể giấu kín khỏi đời sống công khai của tôi mà không để lại một ảnh hưởng gì lớn lao. Nó không hẳn là “trốn trong tủ,” tại vì tôi không ngại nói với người khác là tôi queer, nhưng bản thân tôi lại đang phải vật lộn với mối quan hệ của tôi đối với cơ thể nữ, và những ý niệm về sự lãng mạn hay tình yêu dị tính mà tôi từ bé đến lớn lúc nào cũng bị bủa vây.
Tôi chưa từng tham gia một buổi gặp mặt nào với hội les ở Việt Nam - tôi biết họ có tồn tại bởi vì khi tôi còn ở trong nước, một đứa bạn tôi đã chỉ vào một quán cà phê trên phố cổ và nói đây là nơi lesbian tụ tập. Trước đó, một người bạn khác lớn tuổi hơn tôi quen một vài nhân vật lesbian, rồi đi chơi với một nhóm thường xuyên. Họ đi phượt hay đi cắm trại - cũng không khác gì đội lesbian bên Mỹ vậy, có thể đây là một trong những minh chứng của tính nhân văn toàn cầu của cảm xúc con người? Rằng lesbian thích thiên nhiên? Nói chung thì, ý tôi là, tôi biết đến sự tồn tại của lesbian quanh tôi từ hồi còn nhỏ, tôi cũng không tò mò muốn đến gần. Tôi nghĩ sự queer của tôi không thực sự xuất phát từ xu hướng tính dục. Khi tôi cuối cùng cũng có tình cảm với người nữ, việc chấp nhận tình cảm ấy thực ra không có gì khó khăn, nhưng nó cũng không đủ để shock tôi bởi vì tôi không cần ai phải thuyết phục mới chấp nhận việc giới tính đa dạng là chuyện bình thường. Tôi lúc ấy còn trẻ, nhưng cũng đã trưởng thành - tôi không áy náy hay đau khổ vì việc mình không thực sự yêu thương đàn ông (hay là cái vai trò giới là hiện thân của họ) và kể từ khi là một đứa trẻ tôi đã quyết định với bản thân rằng mình sẽ không sinh con. Bởi vậy việc có lập gia đình hay không cũng không quan trọng, việc làm mẹ lại càng không có ý nghĩa gì. Nhất là khi tôi, không hẳn là “biết,” nhưng mơ hồ cảm nhận được rằng tôi có lẽ đã hỏng thật rồi, từ trong tâm khảm hay là bên ngoài cơ thể, bởi vì những tình yêu của mẹ và sự giày vò của chúng.
Viết cho một tờ queer zine của một người bạn Mỹ gốc Việt, tôi từng nói thế này: “Có một ngày tôi sẽ yêu bản thể nữ của mình, như cái cách tôi yêu những người nữ khác.” Quanh tôi, nhiều người nữ nói họ nhận biết sự queer của mình qua những tình ái dành cho người nữ khác, hay sự cấm đoán của nó. Nhiều người chuyển giới nói họ biết mình sinh ra ở một cơ thể sinh học khác với điều họ muốn có. Nhiều người nói họ luôn biết mình “bất thường,” hoặc “khác người” và bởi vậy họ tìm thấy bản thể queer—dù họ gọi đó bằng tên gọi gì và thay đổi theo thời gian thế nào—khi họ nhận ra mình đã “trở về nhà” trong cơ thể họ. Tôi cũng thực lòng không biết nếu một ngày nào đó tôi cũng có một căn nhà như vậy. Bạn biết đấy, loại người queer tha hương và lãnh đạm với gia đình máu thịt như tôi, người trưởng thành với cơ thể mang những vết bầm của đứa trẻ con lớn lên trong sự nhào nặn của mẹ nó để trở vào khuôn khổ chính quy cho người nữ—dáng vóc, hình hài, gót ngọc, tóc mây, da sáng, mắt huyền, những hiện thân của vọng tưởng dị tính châu Á xuyên qua không gian và thời gian, từ nền văn minh này sang nền văn minh khác, từ đạo Khổng đến bìa tạp chí Vogue thế kỉ 21—cơ thể nào an toàn đủ để là một ngôi nhà?
We can never come home. Not in that way. Một bộ phim queer Việt mới ra gần đây tôi xem, “Thưa mẹ con đi,” khiến lòng tôi xao xác và thốt ra vài lời như vậy trên mạng xã hội, nhanh chóng gợi lên những phản hồi đồng cảm từ những người queer hậu duệ của người Việt tha hương khác. Nếu bạn hỏi tôi, bản thể queer của tôi đến từ đâu, thì hẳn nó đến từ sự đồng cảm với những cá nhân queer hiểu rằng bằng mọi cách chúng ta đều không thể trở về nhà. Nếu bắt buộc phải thừa nhận, tôi sẽ nói với bạn khi viết những dòng này tôi bật khóc như một đứa trẻ con không ai an ủi được, bởi nó đã học được rồi, rằng làm người cô đơn lắm, sự an ủi hay dỗ dành đến từ những người mẹ chỉ lúc nào cũng mong muốn con gái mình là một cơ thể khác, giới tính khác, cuộc đời khác, chẳng thể khiến chúng ta hết buồn.
Còn bạn thì sao? Tôi xin lỗi nhé, tôi biết gia đình hay căn nhà của bạn cũng chông chênh, bạn cũng có ảo tưởng, hoặc không dám ảo tưởng về một người mẹ có thể an ủi bạn. Tôi không muốn là kẻ vô ơn, với cái nguồn gốc gia đình tôi có, với sự bình lặng và yên ổn của nó, với cái giai tầng và sự an toàn kinh tế của nó, huênh hoang về nỗi đau bản thể bởi vì đó là vết thương duy nhất người mẹ nếu không thì hoàn hảo đã gây đến cho tôi. Tôi biết nếu kiếp đời của tôi khác, thì sự queer của tôi sẽ rất khác, có thể tôi đang ở một vùng nông thôn nào đó tìm mọi cách lên thành phố và chật vật để tìm cách sống, hoặc bế tắc trong đời sống bộn bề và buông tay rơi vào cấu trúc dị tính mà xã hội có thừa để đời sống trở nên dễ dàng, hoặc là người nữ thừa kế nào đó bị buộc phải lấy người nam thừa kế khác vì, nếu chưa ai nói với bạn thì bây giờ bạn biết, tính dục và giai tầng đã luôn gắn kết với nhau như vậy. Tài sản không chỉ đến từ tích cóp sức lao động hay là vật chất, mà nó được bao buộc trong cái gói giới-tính-dục xuyên thế hệ. Nhưng, tôi biết, biết chứ không phải hy vọng, rằng mọi bản thể queer ở mọi hoàn cảnh và mọi mảnh đời, mọi dạng hình dù nhen nhóm hay nở rộ, đã được nhận ra và nuôi nấng hay là một ánh loé trong tiềm thức, chỉ cần nó đã xuất hiện thì nó đã luôn tồn tại, trong và ngoài mọi cái tên chúng ta đặt cho nó. Ngay cả khi nó bị hy sinh để sống còn, khi nó bị gạt đi bởi chúng ta cần phải sống, hay bỏ mặc trong tiềm thức tù đày.
Sẽ có những người hôn tạm biệt bản thể queer của họ và chôn nó thật sâu đâu đó, trong đất, trong tim, trong sổ nhật ký, trong những lá thư, trong những tin nhắn không bao giờ gửi hay đã xoá đi, bởi vì cuộc đời mỗi con người mỗi khác. Đã có những người không bao giờ biết rằng những cảm xúc hay suy tưởng của họ về một đời sống khác ngoài thế giới vật chất của họ là khả thể. Tôi đã may mắn được bảo vệ bởi bản thể queer được đặt tên. Bởi thế trọn đời này tôi mang ơn những người nữ queer và chuyển giới da Đen, da màu ở Mỹ như Marsha P. Johnson, Sylvia Rivera và hàng thế hệ của những Ngôi Nhà được dựng lên bởi những người Mẹ Queer như họ. Bởi họ đã vùng lên để bắt thế giới phải nhìn nhận sự tồn tại của mình, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với sự trù dập hay cái chết—để những người queer khác có thể trở thành hậu duệ của người queer trong những mối quan hệ gia đình ngoài máu mủ. Bởi vì họ đã kiến tạo ra một nhân tính queer toàn cầu, thứ có thể nhìn thấy, được thể hiện bằng ngôn ngữ, hành động, biểu diễn, thẩm mỹ, âm thanh, thứ trở thành di sản để ngay cả đứa queer lạc loài như tôi cũng có thể nghĩ về mình bằng tiềm thức khác, rồi nhắc lại những suy nghĩ đó bằng tiếng Việt—điều đối với tôi là thứ gần nhất với một ngôi nhà.
Bởi vậy ngay cả khi chúng ta có lẽ sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nhiều hơn ngoài những con chữ này, ngay cả khi đời sống chúng ta hoàn toàn xa cách không gian-thời gian-thế giới, tôi nghĩ sự đồng điệu queer bản thể mà ta chia sẻ sẽ luôn là suy tưởng về tự do. Tôi hy vọng ở nơi bạn đang ở, bạn giống và khác xưa, bản thể queer của bạn được nuôi nấng, yêu thương, nở rộ, bạn tìm thấy những ngôn từ và ý niệm sẽ đưa bạn đến gần nhất với cái José Esteban Muñoz gọi là “chân trời queer” nơi mọi viễn tượng đều là khả thể. Tôi cảm ơn bạn đã yêu thương, và xin lỗi vì lần cuối cùng mình gặp nhau, tôi đã không biết rằng bản thể queer của tôi đã đến từ những vết cắt riêng tư trong cơ thể và trong tâm hồn vẫn còn rơm rớm. Không biết lúc nào sẽ là lần tới mình gặp lại, nhưng tôi hy vọng bạn cũng sẽ có những diễn ngôn không gọn gàng về bản thể của mình, hãy nói cho tôi được biết sự queer và cuộc đời của bạn. Có lẽ trong bức thư sau, tôi sẽ kể cho bạn nhiều hơn về đời sống của mình, về việc tôi đã trở thành “người mẹ queer” thế nào, và ngôi nhà mà tôi chật vật tạo ra, nhưng đó lại gần như là một câu chuyện khác.
Minneapolis, ngày 24 tháng 9 năm 2022
Thương mến,
L.
The Sound Collection (i) - Ơn gọi
Maik Cay
Psy thu âm ngày 10.02.2022
Trong lúc hút thuốc ở hành lang, anh nghe thấy tiếng hát vọng xuống từ trên lầu. Tiếng hát xa xăm, vô nhiễm, và mơ hồ, như một bàn tay cẩm thạch gói trong chiếc khăn voan trắng mỏng. Bàn tay chạm vào anh, đi xuyên qua làn da và yên nghỉ ở đằng sau gáy anh. Những ngón tay dài nằm giữa bờ của xương thịt thực và thinh không vô-thực.
Người nữ nào đã hát? Nàng tụng ca hay khóc than điều gì?
Giữa quãng thời gian ngắn ngắn ngủi từ khi nàng cất lời cho đến khi tiếng hát chìm vào biển của quá khứ, cánh cửa khép, và điếu thuốc cháy hết, anh đã tự hỏi nhưng không thể có câu trả lời.
Chắc hẳn anh đã nằm mơ thấy tiếng hát. Một ảo ảnh - một tấm gương - một lát cắt từ một thực tại khác: Anh thấy mình lại đứng ở hành lang đó, hút một điếu thuốc để trút bớt gánh nặng ngày dài, và rồi nàng hát. Từ trung tâm của tiếng hát ấy, đại dương của thực tại rẽ sóng làm đôi, mở ra một con đường tăm tối đi về nơi-không-ai-biết. Anh đi vào con đường, lắng tai nghe tiếng hát lẫn vào tiếng ì ùng của sóng dữ trên đầu. Hơi biển bủa vây lấy anh, cát bùn dưới chân dớp dính và trơn trượt, những phiến đá trơ trụi nghiệt ngã nằm ngả mình vào đám rong rêu rối rắm. Những con cá rực màu dần bị thay thế bởi loài thủy quái đáy sâu, tất cả chúng bơi ngấp nghé gần anh, giương những đôi mắt hoặc sáng quắc hoặc mù lòa về phía anh, tất cả chúng yên lặng, người nhẹ nhàng lắc lư trong làn nước tựa bị thôi miên. Bóng tối nặng nề hơn và rên rẩm như một người ốm nặng - một bóng tối biết thở, một bóng tối chảy mồ hôi, một bóng tối trào máu dạ dày vì buồn đau.
Tiếng hát vẫn xa xăm, nhưng không còn trong suốt và xuyên thấu, nó đục dần rồi hòa vào làn hơi nước đang thấm lạnh người anh. Anh tiến mãi vào bóng tối, lòng vừa e sợ vừa rưng rưng. Ở phía cuối của con đường chia đôi đại dương, chắc hẳn anh sẽ chạm mặt thung lũng của cái chết. Chắc hẳn anh sẽ chạm mặt những giấc mơ của mọi con hồ và mọi cơn mưa trên thế giới này. Chắc hẳn anh sẽ chạm mặt tấm lưng bạc màu mênh mang của người đàn bà đã sinh ra anh hay sinh ra thế giới. Chắc hẳn anh sẽ chạm mặt một khối cầu cô độc giam giữ sự phi lý vô cùng của đời người. Chắc hẳn anh sẽ chạm mặt thứ gì đó anh sinh ra để đi tìm dưới cái lồng kính mỗi lúc một đè nặng của tiếng hát thiên khải này?
Hiển nhiên anh không thể có câu trả lời. Chắn hẳn đó chỉ là ơn gọi.
Christ in the Sepulchre, Guarded by Angels - William Blake
Hồn lồng
Vũ Hương
Sâu trong những đêm dài bất tận, sâu trong nước nương dài bờ bãi, sâu trong hang kén tằm tơ, sâu trong những thước thịt da nóng rẫy có u chói một hồn hồng quyết tuyệt đớn đau.
80x80 - acrylic trên toan
/seven of swords/
_summerskin_
đây là điều cuối cùng tôi dành cho em.
sao em không đâm chết tôi
bằng thiên ngôn vạn ngữ
khi những đớn đau câm lặng
chảy thành dòng
.
hoa tú cầu trong mưa
là nước mắt.






Bảo tàng lông
Maik Cay
Tôi không nghĩ mình sẽ hối hận đến vậy vì từ chối cuộc gặp với Trần Bích Băng. Bà qua đời 2 tháng sau khi tôi nói với biên tập viên của mình rằng tôi ngại gặp bà, rằng điều duy nhất kết nối chúng tôi là việc tôi và bà đều là người đồng tính nữ. Không, tôi hiểu việc phải kết nối với cộng đồng của mình và đưa những nghệ sĩ nữ đã chìm vào bóng tối ra ánh sáng gắt gỏng của thời đại mới – nhưng tôi không tìm thấy mình trong những viết lách và thực hành nghệ thuật của bà, nếu không muốn nói thẳng rằng, nếu bà là một gã đàn ông, có lẽ tôi đã hơi chán ghét bà.
Trần Bích Băng qua đời ở tuổi 87, một mình trong căn hộ rất nhỏ với nhiều tranh khổ lớn của bà ở một con ngõ hẹp trên phố Bạch Mai. Bà sống gần căn nhà thời thơ ấu của tôi – số 548 Bạch Mai, một địa chỉ giờ đây hoàn toàn không còn tồn tại sau những đợt quy hoạch mới nhất của thành phố. Bà không nuôi mèo, như tôi vẫn hằng tưởng tượng về một nữ văn sĩ sống một mình ở tuổi đó, không có con cái hay người thân ở gần, ngoài một người giúp việc lớn tuổi lãng tai vẫn đến giúp bà mỗi thứ Ba và thứ Năm hàng tuần, không có bộ sưu tập bạn bè sừng sỏ để đăng những bài cáo phó thống thiết hay buồn sầu trên báo chí và mạng xã hội, không tích trữ những thứ rác rưởi và vưu vật phù du trong mọi ngóc ngách của căn hộ, không có bộ sưu tập áo dài hay áo chần bông hay guốc dép hay bất kỳ điều gì thú vị mà người ta ngỡ có thể trưng trổ cho công chúng để ngẫm lại những vàng son ngày cũ của một ‘nghệ sĩ/văn sĩ nữ’. Những điều bà có (hay những thứ của nả người ta tìm thấy sau khi bà chết): xoong chảo cũ và cáu bẩn, một cái tủ lạnh toàn sữa chua uống để hỗ trợ cái dạ dày kém cỏi của bà, một con cá chết - hẳn không phải đã tuẫn tiết theo bà, mà bởi người ta chỉ tìm thấy bà 28 ngày sau khi bà chết, và con cá đoản mệnh ra đi vì nước trong bình thả cá đã bốc hơi cạn gần hết, một nải chuối đã rữa trên bàn thờ, các tranh khổ lớn do bà tự sáng tác – rất xấu, vẽ ẩu tả, và không có giá trị gì – theo lời chị Đức, biên tập viên của tôi. Điều đáng kinh ngạc nhất – cũng lại theo Đức – là một bộ sưu tập lông tóc mà bà đã kỳ công gây dựng trong suốt cuộc đời mình.
“Cái gì? Lông? Lông gì?” Tôi hoảng hốt hơn mức cần thiết khi nghe Đức nói qua điện thoại.
“Lông. Lông người. Lông con gái phụ nữ.” Đức nói – tôi tưởng tượng nụ cười bí ẩn của chị toác ra chiếm đến gần nửa khuôn mặt nhỏ tí, trong lúc chị vừa một tay bế con vừa một tay với lấy một chai nước tương trên quầy cao nhất của cửa hàng tiện lợi – đó là việc chị vẫn làm khi tranh thủ gọi điện buôn chuyện với tôi.
“Lông?” Tôi hiển nhiên vẫn chưa vượt qua cơn sốc này. “Từ từ, lông phụ nữ, ý là các người yêu của bà ấy ấy hả?”
“Thì có vẻ là như vậy. Rất công phu, ghi rõ tháng, một số là ngày sưu tập, địa điểm, và bí danh của người hiến lông.” Đứa con nhỏ của Đức ré lên và chị còn hét to hơn. Rõ ràng có một cái chai nào đấy đã rớt xuống từ trên kệ hàng nhờ những cú quơ tay thần thánh của con nhóc này.
“Chắc đây là một trò đùa.” Tôi với lấy bao thuốc và châm một điếu để đầu óc tỉnh táo hơn. “Bộ sưu tập luôn?”
“Không, tao phải nói là một bảo tàng lông. Đỉnh cao luôn đấy.” Đức thở hổn hển sau một hồi tru tréo với đứa con. “Bà già dành nguyên một căn phòng cho cái bộ sưu tập đấy. Rất cẩn thận và rất đẹp.”
“Đẹp ấy hả?”
“Đẹp. Ý tao là chỉn chu và có chiều sâu lịch sử, sắp xếp gọn gàng, khoa học. Ừ đấy, nói chung là đẹp đối với một người mê đắm sự gọn gàng như tôi, thưa chị.”
Tôi không tin vào niềm đam mê gọn gàng của Đức cũng như sự đẹp đẽ của bộ sưu tập này. Chỉ có điều, tôi biết, biết rõ hơn rất nhiều điều tôi ngỡ là tôi biết khác, rằng tôi cần phải tận mắt thấy bộ sưu tập ấy.
Trần Bích Băng sinh năm 1935 trong một gia đình trí thức tỉnh lẻ ở Nam Định. Cha bà có một số gắn bó nhất định với ngành dệt của xứ Nam Định, một điều được thể hiện rõ nét nhất qua những di cảo, thư từ và tranh vẽ của bà trong thời kỳ những năm 70. Bà bị ám ảnh bởi các nữ công nhân dệt – bà từng viết một truyện dài và bảy truyện ngắn về đề tài này, sáng tác vài tranh sơn dầu khổ nhỏ đến trung bình và năm tượng gốm (“xấu, ẩu tả, không thể mê được” – trích lời Đức). Nhưng nỗi ám ảnh này chỉ đến trong thập kỷ 70, sau đó phai mờ cùng văn nghiệp vốn dĩ đã không mấy thành công của Bích Băng, và hiển nhiên, tranh bà vẽ lưu lạc đến những nơi khỉ ho cò gáy không còn ai biết. Thông tin về tranh và tượng của bà được một nhà sưu tập cá nhân cung cấp – Đức nói cho tôi hay ông từng coi bà là một hiện tượng độc đáo của văn giới, nên đã mua tranh và một số tượng gốm để cổ vũ bà, bằng nguồn lực tài chính ít ỏi thời đó mà ông có, để Trần Bích Băng tiếp tục viết lách, hay đơn giản là tiếp tục có cơm mà bỏ vào mồm. Đức mô tả ông là một người ít có khiếu nghệ thuật và văn chương, gout thẩm mỹ chân phương, nhưng nhiệt thành với văn sĩ – có lẽ sự nhiệt thành ấy làm ông bốc hỏa tới độ mới giữa tuổi 20 đã hói hết cả đầu.
Văn chương của Trần Bích Băng, với tôi, là rất nhợt nhạt. Có cảm giác như cái tên cha mẹ đặt cho bà đã vận hết cả vào thứ tơ bà nhả ra cho đời. Bà học trường Pháp và mê Flaubert, nhưng không chiếu được tí sắc sảo gớm ghê nào của bậc thầy tả chân này vào viết lách của mình, ngoại trừ việc thích dông dài về những cuộc ngoại tình. Cũng phải nói thêm rằng, tên tuổi Trần Bích Băng còn được lưu giữ đến hiện tại có lẽ phần lớn nhờ cú áp-phe tình ái của bà với vợ một nam văn sĩ nổi tiếng bậc nhất cùng thời – ông Lê X. Người ta đồn thổi rằng bà Lê X đã bỏ trốn theo Trần Bích Băng vào Đà Lạt, để lại chồng và hai con nhỏ, rồi sống với Bích Băng suốt tám tháng trời cho đến khi đức ông chồng kéo theo cả mẹ vợ, vốn là bà góa của một nhà tư bản đầu thế kỷ với căn biệt thự xây kiểu thuộc địa ở phố Hàng Cót, vào tận căn nhà vợ văn sĩ và Bích Băng đang trú ngụ để gô cổ bà Lê X về Hà Nội. Người ta cũng đồn thổi, có lẽ là thêm mắm dặm muối nhiều phần, là trong lúc đức ông chồng và quý nhạc mẫu la lối giằng giật bà Lê X và ép người đàn bà tội nghiệp nọ rời đi, Trần Bích Băng ngồi trong nhà cắt trụi tóc của mình rồi tẩm xăng vào người, trước khi bước ra cảnh hỗn loạn ngoài hiên và định châm lửa tự thiêu. Tôi không tin rằng Bích Băng đã làm như vậy, hoặc chí ít, với tư cách là một người đã rất vật lộn để đọc thứ văn chương nhạt nhẽo, diêm dúa, sầu uẩn của bà, tôi không thể mường tượng là bà làm vậy. Chẳng lẽ người ta có thể sống thống thiết đến mức ấy chỉ để đẻ ra một thứ văn chương lạt như nước ốc? Nhưng đương nhiên, tôi là ai mà dám phán xét một người đàn bà điên vì tình? Chẳng phải chính tôi cũng từng phát điên vì những người đàn bà trong đời tôi hay sao?
Đức gọi cho tôi vào sáng thứ Năm khi tôi đang vắt chân lên cổ mà chạy cho kịp những deadline đau đầu của thế giới tư bản. Không dễ dàng gì để làm một nhà văn bán thời gian, nhưng rõ ràng hiếm ai ở xứ tôi có khả năng để làm nhà văn toàn thời gian. Đức thì thầm ở tông giọng thấp nhất, một lựa chọn thiếu phù hợp với chất giọng the thé bình thường của chị, bởi giờ chị nghe như một con chuột mẹ đang gọi đàn con nheo nhóc của mình về ổ (thứ lỗi cho tôi nếu sự thiếu sót về kiến thức động vật học của tôi khiến phép so sánh này khập khiễng hay phi lý, nhưng quả là tôi đã tưởng tượng ra chị như vậy). Chị nói cho tôi hay là chị đã ‘chôm’ được cái chìa khóa để vào căn hộ của Trần Bích Băng, một nơi chốn đến giờ này vẫn đang được để nguyên trạng bởi họ chưa tìm được nhân thân nào của bà còn ở Việt Nam. Họ đã dọn căn hộ sạch sẽ rồi, chị giải thích, nhưng không giải thích ‘họ’ là ai, nhưng đồ đạc các thứ thì ‘Nguyễn Y Vân’, và có lẽ tôi chỉ còn đâu đó khoảng 4, 5 ngày để thực hiện phi vụ đen tối này – tức là đột nhập nhà bà trái phép để xem bộ sưu tập lông – tôi xin lỗi, ‘Bảo tàng Lông’.
“Mày có dám đi một mình không đấy?”
“Chị không đi với em à?”
Sự hoảng hốt của tôi, một lần nữa, không xi nhê gì với Đức.
“Không. No, no, no, no, sweet darling. Tôi đã có cơ hội chiêm ngưỡng cái bảo tàng đấy rất kỹ rồi và tôi không có nhu cầu xem lại, thông báo cho chị biết.”
“Ôi nhưng tại sao? Em cứ thế đi lên mà tra khóa vào ổ mà không ai nói gì à? Nếu có chị, ý em là một ai đấy mà hàng xóm đã nhìn thấy mặt rồi thì họ sẽ tin tưởng hơn chứ? Nhỡ họ lu lên em là trộm thì sao?”
“Serve you right! Thì đúng mày là trộm còn gì?” Tôi có thể cảm nhận nụ cười kín đáo của Đức qua sóng điện thoại. Tôi ghét cách chị chen thứ tiếng Anh có âm vị lờ lợ của vùng Kent mà chị từng sống vài năm vào những cuộc nói chuyện giữa chúng tôi. Thực ra, có lẽ là tôi không hẳn ghét việc ấy, bởi chúng tôi luôn chèn tiếng Anh vào đủ thứ chúng tôi nói, thói quen của những người bị toàn cầu hóa làm đâm ra phẳng dẹt, bị thuộc địa hóa đến bản chất bởi những suối nguồn văn hóa thực dân chủ lưu mà chúng tôi nốc đến phễnh bụng, nhưng tôi ghét cách chị nói thế vào lúc này. Tôi phải làm một việc phi pháp một mình? Thôi được, thế thì tôi sẽ làm một việc phi pháp một mình.
Nhưng hẳn nhiên, tôi đã không làm việc phi pháp ấy một mình. Tôi nói với Đức rằng tôi đi một mình, khi tôi đến lấy cái chìa khóa ở nhà chị, nhưng tôi, hèn nhát và cảm thấy quá già nua cho những chuyến du hành mạo hiểm trong đơn côi, đã gọi Trấn và gần như siết cổ anh qua điện thoại để bắt anh đi cùng mình.
Trấn sinh vào tháng 12 năm 1976, nghĩa là anh gần như hơn tôi tròn trịa 12 tuổi. Anh là một giám tuyển đã hơi hết mùa, dù anh nói chuyện rất có duyên và là người, theo tôi đánh giá, có gout nghệ thuật cực kỳ tinh tế. Có thể anh đã thành công hơn nếu anh dễ nhìn hơn, hoặc bớt đồng bóng hơn – những điều này tôi không đời nào dám thở ra với anh – hoặc với bất kỳ ai – tự định danh là một phe-mi-nít khiến tôi không thể đem ngoại hình hay lựa chọn đời sống của một tha nhân ra mà chế giễu hay đánh giá. Anh rất chiều tôi, vì lý do gì tôi không rõ – đương nhiên không phải vì anh mê tôi – anh mê đàn ông, còn tôi mê đàn bà – nhưng hẳn có thể nói rằng chúng tôi khá mê nhau, với tư cách là những con người. Anh cũng thường sợ tôi và những cơn sửng cồ bất chợt chụp lấy tôi khi chúng tôi tranh luận về tranh, phim ảnh, hay văn chương. Có thể vì thế mà anh đã đồng ý đi với tôi, khá miễn cưỡng, nhưng anh không chối rằng mình tò mò về cái ‘Bảo tàng Lông’ này.
“Sao người ta không trưng bày nó nhỉ?” Anh hỏi tôi, có lẽ là lần thứ ba hay thứ tư kể từ khi tôi kể cho anh về Trần Bích Băng và bộ sưu tập của bà, trên đường chúng tôi đi đến căn hộ. Chúng tôi đã bắt taxi đến một địa chỉ gần nhà bà, sau đó đi bộ lên căn hộ đó, thay vì đi xe máy thẳng đến nơi, vì sợ bị ai đó tóm cổ. Chúng tôi thống nhất mặc quần áo tối màu, đơn giản để không ai chú ý – một điều quả là báng bổ gớm ghê với những lễ nghi thời trang phóng túng và ngông cuồng (extravaganzaaa!) mà chúng tôi luôn thực hiện khi đi với nhau – nhưng chúng tôi cũng thống nhất rằng không đeo kính đen hay đội mũ hay choàng khăn hay dán râu giả - những trò giả trang lố bịch mà bọn Hollywood đã thánh hóa một cách đáng tởm. Chúng tôi nói chuyện nhỏ nhẹ và cố ra vẻ lạnh nhạt, lãnh đạm khi đi qua con ngõ nhỏ và vào tòa chung cư cũ, lên tầng hai nơi căn hộ của Trần Bích Băng. Chúng tôi đã cẩn thận thừa, chẳng một bóng ma nào xuất hiện từ đầu ngõ cho đến khi chúng tôi mở cửa lẩn vào bên trong chốn lưu trú cũ của bà văn sĩ. Nhưng Trấn vẫn thở hắt cả ra khi chúng tôi khép cửa lại sau lưng, cẩn thận khóa trái hai lần, và rồi, rất bất cẩn, nhân hai sự bất cẩn, anh bắt đầu huýt sáo khe khẽ bản Yellow Submarine của The Beatles.
Phòng khách của bà trống trải và rầu rĩ y như văn chương bà, quét vôi ve xanh có lẽ từ năm mươi năm trước, bên trên ve vẩy một cái quạt trần xanh tiệp màu, hình như đã mấy thập kỷ không được lau chùi, két đầy bụi đen, bên dưới là những đồ gỗ cũ ẩm, không cái nào còn lưu lại nước sơn bóng mà có lẽ đã từng có (hoặc hoàn toàn có thể mường tượng bà đã chung sống với những thứ đồ gỗ không được đánh tí véc-ni nào trong suốt cuộc đời mình), độc một bộ ấm chén đã ố vàng và nhòe hết đường nét trang trí để trên cái bàn gỗ tròn giản dị. Trong tủ ly cũng không có gì ngoài hai cái áo mưa đã cũ, một cái túi nylon to đựng hàng trăm cái túi nylon nhỏ mà hẳn bà đã tích trữ nhiều năm, và một túi vải đựng thư từ mà chúng tôi móc được ra. Những tranh khổ lớn treo đầy phòng khách không làm căn phòng có tí sinh khí nào hơn – phần lớn chúng được vẽ bằng thứ màu lợt không kém gì màu tường, hoặc có những tấm gần như để nguyên toan trắng (hoặc phủ sơn lót trắng nhờ) – tôi không hiểu Trần Bích Băng có dụng ý gì khi treo chúng lên. Để nhắc nhớ rằng cái cốt tử của đời người là sự cô đơn và trống rỗng? Để cái hố thẳm của hư vô mỗi ngày lại mỗi ngày một nhìn sâu hơn vào chính bản thể của người đàn bà tàn tạ này? Để bồi đắp cái ván cầu hòng làm một cú nhảy của đức tin đâm thẳng xuống sự thăm thẳm của phi lý?
Trần Bích Băng để lại một bộ sưu tập khá đầy đặn những trao đổi bà nhận được từ nhiều nữ sĩ đương thời. Rất khó nói ai trong số họ đã từng là tình nhân của bà, bởi dường như bà dồn nhiều tình cảm mướt mát, đẫm nước vào từng trang thư cho từng người đàn bà đi qua đời mình – điều này chúng tôi (hay chính xác hơn là Đức và các đồng nghiệp) được kiểm chứng qua một vài thư từ mà gia đình hay chính các nữ sĩ này đồng ý gửi cho chúng tôi xem. Bà gọi phần lớn họ là ‘nàng thơ của tôi’, một thứ danh xưng thớ lợ rất ám mùi tính nam mà hẳn nhiên bà không thể nào tránh khỏi bị ảnh hưởng, bà tâm sự với phân nửa số đàn bà đó rằng mình ‘thao thức’ vì họ, ‘khi làn mi tôi khép lại và bóng tối rơi xuống tôi, tâm trí tôi bị đẩy trôi về nơi hình dáng cô ngự trị’ (“Khiếp thế!” – theo lời Đức), ‘những ngày nỗi buồn chìm xuống những tầng sâu kín nhất, chỉ có việc nhớ về cô làm tâm hồn tôi đôi chút khuây khỏa’, rằng bà ‘hút thuốc và nhấm một ly rượu đế nhỏ hàng đêm để giữ hồn mình không thoát xác mà bay đến’ người đàn bà đó. Đức khẳng định với tôi rất nhiều người trong những nữ sĩ hay văn hữu này chỉ đơn thuần là những người bạn, thậm chí có những người chỉ gặp Trần Bích Băng đúng một lần trong đời, nhưng tất cả họ đều được bà yêu chiều, vuốt ve bằng câu chữ đến nẫu cả ruột.
Ngược lại, không phải ai cũng đáp trả những tình cảm thều thào, rên xiết, đắm đuối ấy từ bà. Hai tập thư dày bọc trong túi nylon đen được Trấn và tôi phát giác trong cái tủ ly ngay phòng khách của bà. Chúng tôi lôi ra và đọc lướt vài thư – có những thư chán không thể tả. Một bà Vân Ngọc kể cho Bích Băng tường tận một ngày nội trợ quần quật của bà để phục vụ chồng con và quên không nhắn ‘chị nhớ gửi em ít lá dong nếu nhỡ may mà người ta lại cho chị’. Trần đời ai lại đối đáp sự nhớ nhung của một người khác như vậy, tôi cũng lấy làm khó hiểu. Một bà Tuyết Trâm thì có tí thổn thức hơn, nhưng văn chương bà quá chán và sến nên tôi xin phép không trích lại. Một bà Cẩm Thu đan cài giữa hiện thực khắc nghiệt của một cuộc mổ u nang buồng trứng với những bay bổng từ cuốn tiểu thuyết bà đang đọc khi nằm trong bệnh viện (của Alexandre Dumas cha). Người duy nhất làm tôi có cảm tình là một cô Phan Nga, với giọng văn lạnh lùng chán đời nhưng cũng đôi phần da diết. Cô viết ‘Em cầu cho chị một biển yên lành.’, sau khi thông báo cô sẽ về sống ở quê chồng để phụng dưỡng cha mẹ chồng, ‘Còn em, hiển nhiên rồi, trước mặt chỉ toàn sóng dữ.’
Trấn, một kẻ đam mê mọi thứ mùi mẽ trên đời, hít ngửi từng lá thư, nói cho tôi hay cái thư nào để lại cho anh ấn tượng mùi gì. “Phấn sáp thì ít, thum thủm thì nhiều. Vàng cốm thì li ti, đất cát thì tênh hếnh tơ hơ ngồn ngộn.” Anh bình luận với vẻ đanh đá, sắc sảo vốn là thứ trang sức lộng lẫy nhất của con người anh, trước khi cẩn thận để lại đống thư vào chỗ cũ, và ra dấu về phía hai căn phòng còn lại – một phòng ngủ, và một phòng có vẻ như là phòng đọc sách hoặc làm việc gì đó. Tôi chọn phòng ngủ, mơ hồ đoán rằng bộ sưu tập lông hẳn phải được lưu trữ ở nơi chốn riêng tư này.
Tôi đã nhầm. Phòng ngủ của bà còn trống vắng hơn, hoăng lên một mùi sạch sẽ của thuốc khử trùng. Hẳn bà đã thối rữa ra trên cái giường này, nên người ta phải gỡ hết chăn nệm và không chút nương tay khi làm sạch căn phòng (có lẽ họ đã thực hiện nó gần như với sự nghiêm cẩn và say mê của một nghi lễ tôn giáo). Tấm dát giường đã mốc xanh nhiều chỗ, loang lổ những vết đen thẫm như có một thứ nước gì rỉ ra từ chăn đệm phía trên xuống trong nhiều năm. Một thanh dát giường đã gãy làm đôi, nằm lặt lìa trái ngang nhưng phần nào hợp cảnh. Tủ đầu giường bị mở toang hoác, trống trơn, ấn tượng duy nhất còn lại chỉ là cái bình thủy tinh thả cá rỗng không để trên đầu tủ – đây quả là một điều thất vọng khủng khiếp với tôi.
Nhưng Trấn thì không quan tâm, anh mò mẫm mở tủ quần áo và hài lòng vì họ không di chuyển gì, hoặc đã di chuyển rất ít đồ đạc đi. Cái tủ khá cao, phả ra mùi gỗ hăng hắc và phảng phất mùi băng phiến lẫn với mùi dầu gió. Tay nắm cửa sáng bóng lên sau hàng chục năm bị xoa nắn, kéo đẩy, treo lủng lẳng một đống dây chun đã nhão. Mặt trước tủ đắp những tấm gỗ vuông mỏng nhạt màu làm thành một bàn cờ dựng đứng, trên một trong những ô vuông đó dán vụng về một chiếc gương cầm tay viền nhựa tím, mặt gương đầy những vết nám đen đến độ tôi không hiểu một người muốn soi gương sẽ nhìn thấy cái gì ngoài một phiên bản tuồng như bị thối rữa của mình. Tôi đã không cản được mình rút điện thoại ra và chụp lại chân dung của mình trong tấm gương ấy, rồi buồn bực vì bức ảnh điện tử không ánh xạ lại được sự thật tăm tối của cảnh trí trước mắt.
Trấn xem xét kỹ lưỡng số quần áo khá ít ỏi bà treo trong tủ - những đồ lịch sự và cần giữ cho phẳng phiu – và bỏ qua đống hổ lốn nhỏ bé toàn những áo cánh mỏng, quần lụa, quần len, áo cổ lọ cho mùa đông xếp chồng lên nhau thành mấy chồng nghiêng ngả ở phía dưới. Anh thích một chiếc áo dài màu thiên thanh đã nhạt màu, và gần như với vẻ xúc động nghẹn ngào khó tả, chỉ cho tôi xem chiếc ghim cài áo hình đôi mắt nhỏ ra một giọt lệ ngọc – viên ngọc đã rơi mất, chỉ để lại một cái hố kim loại, và viền đôi mắt từng một thời vàng óng ánh nay đã hoen lên nước thời gian. “Đây đúng là Bích Băng này.” Anh thì thầm, bàn tay vuốt ve chiếc áo và ánh cười buồn nháng lên trên gương mặt xấu trai đầy vết sẹo rỗ. Tôi ngồi xổm dưới chân anh, mở một ngăn kéo tủ phía dưới cùng. Bên trong ngăn kéo toàn đồ lót và khăn quàng cổ lụa nhỏ - những thứ rặt là thuộc về một bà già. Tôi cầm một chiếc quần lót màu hồng đất đã doãng chun, vải cotton bị giặt nhiều lần đến độ gần như hơi trong suốt, điểm thú vị duy nhất là một chữ B màu đỏ được thêu bên hông quần. Chiếc quần làm tôi nhớ đến bà ngoại của mình, cái ban công nhỏ tí nơi căn hộ bà ở với cậu tôi, mà tôi thường trốn ra đó để đọc sách, dưới bóng những thứ cây leo còi cọc nhưng sống bền – giống thực vật khả dĩ sống sót được trong một căn chung cư kiểu cũ, và những quần lót, áo lót tuềnh toàng, rộng ngoác bà phơi trên mắc áo. Tôi giơ lên cho Trấn xem và đáp lại anh bằng chính lời anh nói “Đây đúng là Bích Băng này.” Anh lắc đầu vẻ kịch tính, làm mớ tóc chải hất lên để che vết hói đang khởi phát xòa hẳn xuống trán. Tôi hiểu Trấn, tôi hiểu anh không bất đồng với tôi, chỉ là dường như đôi lúc nỗi buồn từ những đồ vật riêng tư thế này làm chúng tôi không chịu đựng nổi. Chúng tôi có lẽ cũng đã lấy làm xấu hổ tột cùng với chính mình vì xâm phạm cuộc sống của bà đến mức ấy, hay có lẽ chúng tôi còn có đôi phần tủi thân khi nhìn thấy trong sắp xếp đời sống của Trần Bích Băng những sắp xếp đời sống sẽ là dành cho cả tôi và Trấn khi bóng tối của thời gian đổ lên mái đầu cả hai chúng tôi.
Có một giai thoại về Trần Bích Băng mà Đức kể cho tôi, rằng trong mấy năm cuối đời, bà duy trì một thói quen, hay đúng hơn là một tật nhỏ, đó là liên tục xoa ngón trỏ và ngón cái của bàn tay trái vào nhau, bất kể khi nào bàn tay này được rảnh. Tật này đã khiến cho đầu hai ngón tay này nhẵn bóng và mất hết cả vân tay. Trong một lần hiếm hoi giải thích với người khác về thói quen này, bà nói, thịt da chỉ là vật chất, nếu cọ xát liên tục ắt hẳn sẽ phải tan rã ra hoặc hòa tan vào nhau. Những phân tử và nguyên tử và tế bào của đầu ngón tay này sẽ lẫn vào đầu ngón tay kia, hoặc sẽ rụng xuống (“Ý cụ bà là xoa cho ra ghét, chắc vậy.” – trích lời Đức). Một cái tật nghe hết sức buồn cười và ngớ ngẩn, nhưng không phải không có lý. Tôi nhớ đã thảng thốt ra mặt khi nghe về câu chuyện này, và bởi được trí não nhớ dở quên dở chỉ dấu, tôi mất đến hơn nửa tiếng đồng hồ chỉ để tìm lại một cuốn sách của Camus, mà trong đó ông trích dẫn Kierkegaard, rằng ‘Trong thất bại của mình, người tín hữu tìm thấy niềm vui chiến thắng.’ Tôi mất gần một tiếng nữa để tìm xem Kierkegaard phát biểu điều đó ở đâu, nhưng không ra. Chỉ có những khả thể của phi lý nằm lại trong tôi, bên cạnh những mảnh vụn đời sống, bất chấp tính không thể lý giải được của nó – như thói tật của một bà văn sĩ già, vẫn kháng cự mọi cố gắng của lý tính và hiển lộ thầm kín nhưng thâm sâu.
Chúng tôi ngồi hồi lâu bên đống quần áo, và có lẽ sẽ ngồi mãi thế, nếu không có tiếng kẻng gõ báo đổ rác dưới nhà làm cả tôi và Trấn bừng tỉnh. Với hai tấm vé là niềm tin vào những điều có lẽ không nên tin, chúng tôi dắt tay nhau đi vào Bảo tàng Lông của người đàn bà đã chết.
Khi tôi ghé nhà Đức trả lại chiếc chìa khóa, đứa con gái nhỏ của chị đã ngủ. Chồng chị giam mình trong phòng làm việc vẽ đồ án, nên không ra chào tôi. Chúng tôi vặn đèn thật nhỏ, ngồi khoanh chân dưới đất, hai người đàn bà cùng nhìn đứa trẻ đang thiêm thiếp trên giường, trán dán một miếng hạ sốt với những hình thù trang trí ngộ nghĩnh. Má nó đỏ hây hây, môi khô nẻ và mũi thở phì phò. Những đồ chơi, gấu bông, sách truyện bày la liệt quanh chỗ nó nằm như những công cụ bí ẩn của một nghi thức tâm linh. Bà mẹ mê tín là chị Đức còn đốt ít bồ kết và xô thơm ngoài phòng khách, khiến cho không khí thêm phần não ruột. Tôi tưởng như chúng tôi đang diễn những vai sang cả, bi thương, thống thiết của một tiểu thuyết lãng mạn hồi thế kỷ 19. Mặt Đức bạc ra, cặp môi trắng nhợt – đầu chị nom như phủ một lớp voan mỏng thấm đẫm chất rầu rĩ mệt mỏi. Đức xoay xoay cái chìa khóa tôi đưa trong tay, nhưng mắt chỉ nhìn con, có vẻ chị không muốn hỏi xem chuyến đi của tôi thế nào. Tôi cũng im lặng – thật kỳ lạ để nói rằng tôi thích sự im lặng nặng nề này.
Khi tôi nhắm mắt lại, Bảo tàng Lông vẫn nằm nguyên ở đó, hổn hển và tươi mới như một con cá vừa được vớt lên từ biển cả. Dù đã kỳ công thống kê số lọ mẫu vật được thu thập, việc đếm số lông tóc cụ thể đã được tích trữ là bất khả. Một câu hỏi lửng lơ trong đầu tôi – số lông tóc ấy, mà mỗi sợi đều quá mỏng manh, bé nhỏ - nếu dồn tất cả lại, chúng sẽ nặng bao nhiêu? Liệu chúng có nặng hơn một đứa trẻ con mới đẻ, hay một người đàn bà đã chết? Liệu chúng có nặng hơn một đời người từ tử cung mẹ đến đáy quan tài? Liệu chúng có nặng hơn mọi bước chân mà một con người đã bước đi trên biển gai thế tục, mọi lời tiếng và chữ nghĩa mà một người đã thưa thốt ngoài miệng hay đẩy đưa trên trang giấy, mọi vết roi mà một người đã quất lên tấm lưng trần của mình trong cuộc hành hương về sự thật cuối cùng, mọi tha nhân đi qua đời một người mà từng ánh mắt là từng vết cháy và từng vuốt ve là từng đường rạch mở thịt da? Khi tôi nhắm mắt lại, những chiếc lông nhỏ bé đó sáng bóng lên chất sừng đã bươn chải thời gian, chúng lấp lánh như lân tinh, rồi mờ nhạt ngay vào phông nền của màn sương ký ức, như những con thuyền quá nhỏ bị sóng dữ đánh chìm và làm cho khuất lấp mãi mãi. Chúng, một cách vĩnh hằng, luân chuyển giữa hai trạng thái sáng chói và tăm tối, như những pha nháy đèn 01010101 của một siêu máy tính nguyên thủy.
Tôi nghĩ mình có thể ngồi đây mãi mãi, cho đến khi gục xuống mà chết, và vật chất của tôi sẽ hòa vào vật chất đã làm ra chăn nệm, hay sàn gỗ, hay bất kỳ nơi nào mà thân xác và lông tóc tôi rơi ngã. Tôi ước gì có thể nói với Đức, rằng đời sống nhẹ bẫng đến không tưởng, như đống lông tóc quái gở và đẹp đẽ này, nên sự nặng nề dịu dàng của căn phòng nơi chúng tôi ngồi khiến tôi thấy được an ủi, dù chỉ trong chốc lát, như một miếng dán hạ sốt mà tất cả chúng tôi đều biết không có mấy tác dụng với lũ trẻ con. Tôi ước gì có thể nói với Đức, rằng trong suốt hai mươi năm qua, tôi chưa bao giờ ngừng cái ý tưởng rằng tôi muốn chết, rằng tuổi trung niên đã đến rồi đó, và tự nó, dầu hứa hẹn cái chết ngày một gần, không làm cho cuộc đời dễ thở hơn chút nào. Tôi ước gì có thể nói với Đức, rằng chúng ta đã già đi mà không mấy khôn ngoan lên, rằng chúng ta vẫn quẩn quanh trong những vũng lầy nhỏ hẹp của sự thống khổ riêng tư, bị dồn ép như những con chó sắp bị làm thịt trong một trại chó không nơi chốn không thời gian, sủa vào trăng và sùi bọt mép, cào gãy móng vào những bức tường sắt và cắn cấu nhau đến chảy máu, nhưng mãi bế tắc trong kiếp chó hèn mạt, rằng chúng ta đã đi một chặng đường tưởng như quá dài nhưng thực tình quá ngắn, bất khả vãn hồi và đầy ảo tưởng tệ hại, những kẻ bơi qua nghìn trùng đại dương chỉ để tìm thấy mình ướt, lạnh, cô độc trên một bờ biển vắng đầy đá sỏi và vỏ sò vỡ nát. Tôi ước gì có thể nói với Đức, rằng hơn bao giờ hết, tôi biết, tôi biết, rằng tôi sẽ trở thành một mụ văn sĩ già bạc nhược, viết thứ văn chương không ai buồn đọc hay thậm chí buồn chê bai, sẽ sánh vai cùng những nghệ sĩ và giám tuyển hết thời dưới tầng hầm của lâu đài danh vọng, chờ một cuốc rượu mà người ta hứa hẹn bày ra cho chúng tôi nhưng không bao giờ đến. Tôi ước gì có thể nói với Đức, rằng nỗi sầu bi và tủi hổ của việc sống, là điều đứa trẻ, như đứa trẻ thiêm thiếp của chị, được đầu tiên, và là điều một kẻ đã chết, như Trần Bích Băng, người đàn bà đã bị chúng tôi xới mộ, còn lại sau cùng. Tôi ước gì có thể nói với Đức, rằng trái tim tôi nặng nề, nặng nề, trong tiếng đập nặng nề, trong tiếng ồn trắng nặng nề, trong bước nhảy của đức tin nặng nề, trong sự không thể vượt thoát và không thể giãi bày nặng nề, trái tim đó đang đi qua thung lũng bóng tối và sẽ chìm dần như đá xuống đáy biển phù du. Nhưng Đức lặng im, và tôi lặng im, chúng tôi ngồi khoanh chân nghe đứa trẻ gái thở phì phò khó nhọc trong giấc ngủ, đôi khi nói mớ và đôi khi giật mình, đôi khi gọi mẹ như mọi con người gọi mẹ trong lúc khốn cùng, và Đức vỗ về nó, thì thầm ‘Mẹ đây, mẹ đây, em ngủ đi nào.’, trong lúc trái tim tôi giật lên từng nhịp buốt nhói, khi tưởng nhớ về Bảo tàng Lông.
Tôi đã ngồi rất lâu để ngắm nghía từng lọ mẫu vật. Biết nói thế nào đây? Bên trong tôi, phải, chúng đã đi vào bên trong tôi – và chúng đan kết vào nhau thành một bè tơ trôi đi trong suy tư bất khả thấu và nỗi buồn vô lượng của một người, hoặc giả, chúng biến thành một rhizome – một thứ thân rễ kết nối mọi mộng mị và ảo ảnh của một người, hoặc giả, chúng lửng lơ như một thứ vân đồ vô định trên mái đầu phong sương của một người, hoặc giả, chúng viên lại thành những búi lớn, sắc như dao và triền miên như thời gian, mắc nghẹn lại ở cổ họng rồi trôi xuống để cào cấu ruột gan một người. Tôi tự hỏi, Trần Bích Băng đã thu thập chúng trong hoàn cảnh nào? Có ai trong chúng ta đếm được số lông tóc mình đã rụng xuống và phủi quét đi như một thứ rác rưởi trong đời, và có ai trong chúng ta ngỡ rằng trong góc khuất của thành phố này, có một người đàn bà đã dành cả đời để gom góp thứ rác rưởi đó. Với trung bình năm triệu lỗ chân lông trên người, bao gồm khoảng 100,000 sợi tóc, và mỗi lỗ chân lông có thể mọc ra những sợi lông tóc mới hai mươi lần trong suốt quãng đời ta sống, chúng ta có cả trăm triệu những mẫu vật ghi nhớ mã gene và có lẽ ký ức của mình để rải khắp địa cầu. Nếu phải hỏi, tôi sẽ hỏi, mỗi chúng ta đã rũ xuống những lịch sử cá nhân nào một cách tàn nhẫn và không khoan nhượng, mỗi khi ta chải đầu, tắm rửa, mặc quần áo, cạo và nhổ lông, hay khi ta bước đi vào cuộc đời gió bụi, với nỗi sợ bị hói, với những mảng da đỏ tấy vì viêm nang lông, với thân thể trần trụi đã rũ đám lông dày dặn ấm áp của kiếp khỉ để nhận mang kiếp người tẻ nhạt? Tôi không thể biết, và tôi e rằng, không ai có thể biết.
Tất cả những điều tôi biết chỉ là những ghi chép vụn vặt như vậy về Bảo tàng Lông. Tôi nợ Đức cái tên ‘Bảo tàng Lông’ này, như tôi nợ chị rất nhiều thứ khác, mà tôi đã hoàn toàn quên không cảm ơn.
Tôi chỉ muốn kể một điều cuối cùng về Trấn. Trong khoảng nửa tiếng hoặc có lẽ một tiếng cuối cùng, khi tôi đếm, tổng hợp, ghi chép như một kẻ điên nốt những gì tôi có thể đếm, tổng hợp, ghi chép, thì anh biến đâu mất. Tôi tưởng anh đi vệ sinh hay hút thuốc. Nhưng không, khi tôi tìm ra anh, Trấn đang ngồi thu lu trong cái tủ quần áo mở toang cửa của Trần Bích Băng. Anh quá to để đặt cả người vào tủ, nên chỉ ngồi hờ trên mép tủ - có lẽ anh cũng sợ làm gãy thanh ván tủ, dù trông nó có vẻ dày dặn. Anh khóc rấm rứt, tức tưởi. Khi tôi cầm tay anh, anh úp cả khuôn mặt già nua, không một nét điển trai lên tay tôi. Rồi anh nói, giọng đặc nghẹt vì tắc mũi: “Mày nhớ bài thơ Con bê hai đầu của Laura Gilpin không?” Tôi nói là tôi có, vì đấy là bài thơ anh yêu thích nhất, và có lẽ anh đã đọc cho tôi nghe cả trăm lần, lần nào cũng bằng câu hỏi quen thuộc rằng tôi có nhớ bài thơ ấy không. Rồi anh nhẩm lại bài thơ ấy, bằng tiếng Anh. Tôi đã nói rồi đấy, chúng tôi phẳng dẹt ra vì những quả tạ của nền văn hóa chủ lưu. Nhưng thôi, đây là bản tiếng Việt của bài thơ đó:
Con bê hai đầu
Ngày mai khi những cậu trai ở nông trại thấy
dị vật này của thiên nhiên, họ sẽ quấn xác nó
trong giấy báo và mang con bê nhỏ đến bảo tàng.
Nhưng đêm nay bê con còn sống, nơi cánh đồng
phía bắc bên mẹ. Ấy là một đêm hè
hoàn hảo: trăng nhô lên
trên vườn cây trái, gió lùa trong cỏ. Và
khi chú bê nhỏ ngước nhìn bầu trời, chú thấy
gấp đôi những vì sao.
Chẳng phải chúng ta đều chỉ là những con bê hai đầu lạc lối trong bảo tàng dị vật hay sao? Tôi mong cầu rằng, một ngày nào đó, ai đó sẽ dịch bài thơ này tử tế hơn tôi.
————————————
Phụ chú về Bảo tàng Lông
Tôi không biết phải mô tả thế nào về Bảo tàng Lông. Tôi không muốn ai phải thất vọng khi nghe về nó. Nhưng nói cho cùng, thất vọng là cảm thức mà chúng ta buộc lòng phải chung chạ khi chen chân trên địa cầu này. Vì vậy, tôi chỉ dám mong cầu rằng, những ai được biết về Bảo tàng Lông thông qua tôi, cũng có thể coi sự thất vọng như một loại kinh nghiệm khả dĩ chấp nhận hay cưu mang được.
Căn phòng được chia làm đôi. Một nửa nơi mắt chúng tôi nhìn thấy khi bước vào, là một bàn làm việc nhỏ và mấy giá sách vẹo vọ với đủ loại sách vở, tài liệu phủ bụi, giấy ố cũ, ngả vàng, những bản in trên giấy rơm từ thời nghèo khó mà nội việc luận ra chữ tác với chữ tộ cũng mất non ngày, những bản photocopy đen thùi, dính nhiều vết tròn của đáy cốc uống trà – khiến người ta không khỏi nghĩ có lẽ tác dụng chính yếu của chúng trong đời sống không phải là chuyên chở kiến thức hay thông tin, mà là làm đế lót ly, những cuốn sổ dày ghi tháu cả trăm nghìn trang, đôi lúc chen vào những danh sách đi chợ với bảng tính toán tiền nong hàng tháng, những bản vẽ nháp với thứ dessin thấp hơn cả thứ cấp – mà nếu buộc phải trích lời Ingres, rằng ‘dessin là đức hạnh đầu tiên của một họa sĩ’, thì người đàn bà này quả thiếu đức hạnh.
Một nửa được che lại bằng một tấm rèm màu nhung xanh biếc như ngọc lục bảo. Đó là thứ có vẻ còn mới và được giữ gìn nhất trong căn hộ tồi tàn của Trần Bích Băng. Sau tấm rèm là ba kệ gỗ lớn được đặt đóng kín ba mặt tường. Trên kệ gỗ là 987 lọ thủy tinh to nhỏ đủ loại, được dán nhãn và phân loại theo tháng, năm thu thập – đôi khi là ngày, nhưng những nhãn có ghi ngày thỉnh thoảng bị bôi đen đi phần ngày, không rõ nguyên nhân, mà chỉ có thể phỏng đoán để tránh việc truy lùng ra manh mối. Mỗi lọ thủy tinh chứa một nhúm lông hoặc tóc, có những lọ nhìn qua tưởng như trống rỗng, nhưng nếu soi dưới ánh đèn sẽ thấy một chiếc lông tơ siêu nhỏ đọng ở đáy hay thành lọ. Bộ sưu tập kéo dài đúng năm thập kỷ, với một số mẫu vật từ chung một người được sưu tầm lại liên tục qua nhiều năm. Một số cái tên nổi trội mà tôi và Trấn đã vội vàng thống kê được:
Mlle NgPhx1102: 4 lần, trong khoảng thời gian 28 năm 9 tháng
Mlle LyTTKr0305: 7 lần, trong khoảng thời gian 12 năm 1 tháng
Mme NgLPhg2710: 3 lần, trong khoảng thời gian 5 tháng
Mlle TrMDD0609: 6 lần, trong khoảng thời gian 47 năm 10 tháng
Mme ThuyOxn1110: 12 lần, trong khoảng thời gian 13 tháng
Mẫu vật của những bí danh này có thể đã được sưu tập thêm trong quãng mở lớn hơn, nhưng chúng tôi không có đủ thời gian rà soát. Ngoài ra, còn nhiều cái tên khác có thể đã được lặp lại, nhưng chúng tôi cho là chưa đáng lưu tâm, hoặc chưa phát hiện ra. Tất cả các mẫu vật được tạm xác định là của người nữ, do danh xưng Mlle (Mademoiselle – Cô) và Mme (Madame – Bà) ở đầu.
Các mẫu vật đôi khi được đánh mã địa danh, nhưng khá khó định dạng: ngoài một số địa danh dễ nhận biết trực thuộc Việt Nam như HN (Hà Nội?), SG (Sài Gòn?), CT (Cần Thơ?), ĐL (Đà Lạt?), hay TTH (Thừa Thiên Huế?), thì cũng có những địa danh rất khó hiểu, có vẻ ngoại quốc như WA (chúng tôi chưa từng nghe nói đến việc Trần Bích Băng tới thăm nước Mỹ hay bang Washington, nên chúng tôi tạm bỏ qua phỏng đoán này), GX (Trấn cho rằng GX có thể là viết tắt cho một Giáo Xứ mà Trần Bích Băng hay ghé thăm, nhưng tôi thấy không thỏa đáng lắm – vả lại, tôi không nghĩ bà lại đến một giáo xứ nào đó để sưu tập lông), hay HK2 (Hồng Kông? Nhưng số 2 có ý nghĩa gì ở mã địa danh này?).
Phần lớn các mẫu vật này là tóc, tuy nhiên, khá nhiều mẫu vật rõ ràng là lông ở vùng mu hoặc nách, vì độ dày dặn, thô ráp và chiều dài của chúng. Có một vài mẫu vật sáng màu – vàng, nâu đỏ - khiến chúng tôi đặt ra giả thuyết Trần Bích Băng có tiếp xúc và thu thập mẫu vật từ một số phụ nữ phương Tây – đương nhiên, số mẫu vật này là hiếm. Nhãn mẫu vật không nêu rõ tuổi của đối tượng thu thập, nhưng có thể quan sát thấy một số mẫu vật, đặc biệt là các mẫu vật từ thập kỷ 90 trở về sau, bắt đầu có nhiều các loại tóc/lông bạc, cho thấy các mối quan hệ của Trần Bích Bằng không chỉ khoanh vùng ở các nhân vật trẻ tuổi, ‘con gái phụ nữ’ như lời Đức nói, mà trải rộng qua mọi loại đối tượng mà bà đụng độ. Khoảng gần 80 mẫu vật, bên cạnh lông và tóc, còn được ‘đính kèm’ một mẫu vật vô cơ hay hữu cơ khác – như một chiếc khuy áo bọc vải, một kim băng, một mẩu giấy nhỏ vo viên, hay một viên sỏi rất nhỏ (mà Trấn cam đoan với tôi là một viên sỏi thận).
Một lọ gây ra sự chú ý đặc biệt cho chúng tôi vì kích cỡ và số lông tóc của nó. Có thể gọi nó là một cái bình đại, so với những chiếc lọ tí hon bên cạnh. Dường như đã có một người đàn bà nào đó hiến cả một rổ lông tóc cho Trần Bích Băng – tự nguyện – vì tôi tin là bà không có khả năng lén cắt đi của ai ngần ấy lông tóc. Mã số của lọ này không khác nhiều với các lọ khác: Mme NaThg1812, và bí danh này chỉ được sưu tập mẫu vật đúng một lần.
Một lọ khác khá nhỏ nhắn, với nhãn dán màu cát cháy đỡ mờ chữ, vo viên rất nhiều búi lông tóc nhỏ, như thể chúng đã được một con bò cố gắng tiêu hóa rồi nhả ra. Rất nhiều lọ chứa những lọn tóc mềm mại như tóc trẻ thơ, nhưng có những lọ phủ đầy những vụn lông ngắn, thẳng, đen thẫm như gai nhím trám gần kín bề mặt lọ. Một lọ đặc biệt chứa một túm lông như một chùm thạch anh kết tủa, được ngâm trong một thứ nước đã nhờ nhờ qua năm tháng – chúng tôi không thể kết luận tại sao mẫu vật này lại được bảo quản đặc biệt như vậy. Một lọ có chứa cả một phần bím tóc dày, mà bằng một cách kỳ diệu nào đó, Trần Bích Băng đã lèn vào được một diện tích thật hạn chế. Một lọ khác rắc đầy cả những mảnh gầu hoặc vảy da, mà Trấn, đã hoảng hốt khi cầm phải. Đặc biệt, chúng tôi tìm thấy một lọ mà bên cạnh đống lông (khá rõ ràng là lông mu) hổ lốn, trên thành lọ còn két những vệt nâu đỏ, mà tôi đồ rằng có thể là máu hành kinh được sưu tập cùng với đống lông nọ.
Điều đáng kinh ngạc về Bảo tàng Lông, với cá nhân tôi, là nó được chăm sóc rất cẩn thận, không dính bụi và tèm nhèm như phần lớn đồ đặc trong nhà bà. Các lọ thủy tinh có vẻ như được lau chùi (hoặc đúng ra như tôi nghĩ, là mân mê, có khi là bởi cái ngón cái và trón trỏ đã mất dấu vân tay của Trần Bích Băng) một cách cẩn thận và giữ nguyên độ sáng, mới. Các kệ gỗ cũng trong tình trạng tốt tương tự, thậm chí không có dấu hiệu mối mọt hay ẩm mốc như thường thấy ở các đồ gỗ lâu năm tại xứ nhà.
Nhãn dán đương nhiên không ở trong tình trạng tốt được như vậy, đặc biệt là các nhãn dán từ thập kỷ 80 trở về trước do chất giấy xấu, chất liệu mực in hoặc viết tồi đã khiến nhiều nhãn phải được tô/chỉnh sửa lại, hoặc phai màu (hoàn toàn có thể tưởng tượng ra rằng những nhãn phai màu là những người đàn bà đã bị lãng quên, thậm chí, khinh khi, còn những nhãn được tô lại chữ hẳn phải thuộc về những người đàn bà đã vĩnh viễn ngự trị trong vùng hồi hải mã của cố văn sĩ).
Có khoảng hơn mười lọ thủy tinh rất đẹp và tinh xảo được sử dụng trong bộ sưu tập, có vẻ như là lọ nước hoa hoặc tinh dầu cũ. Tuy nhiên, phần lớn lọ chứa là loại lọ phổ thông có thể mua ở những cửa hàng đồ dùng thí nghiệm hoặc thậm chí hiệu tạp hóa lớn không chút khó khăn.
——————————
Gần cuối cơn mơ
Thanh Thanh ft R.
Gần cuối cơn mơ
Tôi nghe lòng động
Nước mắt lắng từ ký ức rất cũ
Nỗi đau rơi từ phương trời rất lạ
Tôi nghe chim hót
Trong mùa đông đóng băng đã rất dày.
Gần cuối cơn mơ
Tôi nghe tiếng lông mi chớp
Bước chân dừng lại
Sự hoang hoải đọng lại thành sương
Nỗi cô đơn có hình thù trăng bóng nước
Tôi nghe tiếng kim rơi
Nơi chân núi chỉ có đá lạnh
Và một dải nắng mảnh
Không đủ che lấp lối vào của chơi vơi.
Nhan đề tác phẩm mượn tên một bài thơ của cố nhà thơ Du Tử Lê.
Tác phẩm dành cho người trưởng thành. Dưới 18 tuổi xin cân nhắc trở ra.
Có thể đọc độc lập. Hoặc đọc dưới góc độ fan-fiction của band 17.
Ở đây bóng tối lên đầy vốc tay
Memai69
1.
Đây là một câu chuyện với những trận lửa hồ như hoả ngục trần gian? Dạo nọ, Du thấy đâu đâu người ta cũng nhắc đến lửa. Du đi xem một bộ phim về lửa. Nhân vật trong phim trầm mê trong ánh rạng tinh quang của đám cháy cao quá ngọn cây phản chiếu lên khuôn mặt, trong hành trình tìm cơn đau bạo liệt cuối cùng, cần thật nhiều đau đớn, đau đớn hơn nữa, hơn nữa, ồ ồ hơn nữa, thậm loét lở hơn nữa, để quên đi hoàn toàn thực tại éo le; chính lúc này, anh ta nở nụ cười hóa dại như đó là một da mặt khác. Ánh lửa, lớp phấn màu san hô. Không chỉ là một kẻ thẳng thừng đốt nhà của mình và vợ, trên người nhân vật đầy dấu sẹo bỏng, bằng chứng của sự tự ngược đãi. để trừng phạt bóng tối trên thân này.
Một nhân vật giả tưởng khác, nhân vật chính của Fight Club, một tiểu thuyết phản chủ nghĩa tư bản, phản chủ nghĩa tiêu dùng, nếu bạn sợ bị tiết lộ nội dung truyện thì hãy nhảy cóc câu sau đây: anh bạn này thì chế bom nổ bay căn hộ của mình. Lại là lửa. Lại một hành vi phá hủy. Tựa một trong các ý nghĩa của lửa. Lửa sinh sôi nhưng lửa cũng phá hủy. Trong Fight Club, nghĩ “thoáng” với hành vi cực đoan ấy, ta có thể tạm hiểu nó ám chỉ về việc được thoát khỏi ràng buộc, được tự do như chưa từng, được ỉa vào chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tiêu dùng, ỉa vào những thứ ám ảnh trí óc ta khiến ta quay cuồng khổ sở để sở hữu chúng, sưu tập chúng; phá hủy hết thảy mọi thứ đi để được quay trở lại con số không, về mãi điểm ban sơ, khi không gông cùm nào néo giữ. Đấy là Fight Club của Chuck Palahniuk. Còn người mà thân đầy vết cháy, tự đốt nhà hết lần này lần khác trong bộ phim Du đi xem kia thì sao, anh ta có muốn được tự do không?
Có những người sẵn sàng lãnh nhận nỗi đau thể xác bù lấp nỗi đau tinh thần, dù không biết lấp bao nhiêu cho xuể, bù bao nhiêu cho đầy, với họ thì nỗi đau tinh thần còn khó tưởng khôn kham hơn nhiều, so nỗi đau thể xác. Nỗi đau thể xác còn không bằng thứ mà họ đã tự mình định danh là “bóng tối” trên thân, trong cơn mê mang mang màu của một da trời xám xịt.
Có ai trên đời này không muốn được tự do không?
Phải đau đến bao nhiêu mới đủ để thừa nhận những tinh cầu của cảm xúc màu xám?
Có thể K. sẽ nói, tha nhân thiếu trí tưởng về nỗi đau rồi!
Có thể Thuận Ánh sẽ đáp K., chắc não người ta phải to bằng não voi, não cá nhà táng nữa thì mới vừa lòng cậu?
K. trong đầu Du quay sang tỏ vẻ phụng phịu trẻ con với Thuận Ánh, bất chấp vóc người K. đã luôn cao lớn hơn chúng bạn, Dào ôi, tha nhân đúng là địa ngục!
Vậy là các địa ngục soi bóng nhau hả? Thuận Ánh trong đầu Du cười tinh quái, hốt nhiên dời ánh mắt đang ngắm nhìn K. sang nhìn thẳng vào Du, đáp.
Du quá dễ dàng để vẽ ra một phen hội thoại đó trong đầu. Hoặc có lẽ chẳng cần ai vẽ ra cả, những giọng nói nọ sẽ tự toạc thành bầy ong vỡ tổ trong đầu hắn không khác mấy một cơn hoang tưởng bất thần. Sự hốt nhiên nhìn thẳng vào Du của Thuận-Ánh-trong-đầu quả tình đã hơi làm hắn hoảng hồn tím tái.
Đây là một câu chuyện với những trận lửa hồ như hoả ngục trần gian? Không. Không rõ. không. đừng trừng phạt chiếc bóng trên thân.
Chỉ là bóng tối thăm thẳm tóc thệ giăng mắc tựa lửa đen lan theo dầu hỏa từ can xăng của bóng hồng ngăn cấm cũ. Chỉ thấy bóng tối, một mạng tóc. Trải thời gian vốn-dĩ-sắc-đen, ngày đen, tháng đen, năm đen, giờ đen, phút đen, giây đen, đêm đen, hạ đen, luộng cà luộng cuộng đen, rối mòng mòng đen, xao xác đen, tót vời êm ái đen, ngút ngàn diệu huyền đen, thiên thanh đen và đen và đen những nhân dạng được mượn chỉ là những khung da lấp thịt xương và nước, máu, oằn mình lao đao giữa các thực hành làm vắng mặt những khối u mê, hiểu lầm. Một thực hành Vô Si.
Khi lửa đưa lưỡi liếm trước mắt Du. Rất gần gụi. Có lẽ còn gần hơn cả những lần thắp bạch lạp viết thư cho Thuận Ánh nhiều. Có lẽ như sâu vào trong da. Hấp vào trong cốt. Trong sát na, gương mặt Du cũng trở thành phản chiếu của ánh lửa, như thể bôi thêm lớp phấn màu san hô.
Tiếng K. hét lên. Vũ, Vũ! Thằng bố mày! Chó chết!
K.! thằng bố mày ấy! chó chết! chửi ăn cứt à? thằng bố tao hay thằng bố mày?
Như trong thánh lễ ban bí tích Thêm Sức của những người theo đạo công giáo, theo lối cổ điển nhất, bạn phải thông qua một nghi thức-
Ăn một cái vả thật mạnh đến lệch mặt, trào máu có khi, từ giám mục.
Để được tỉnh thức với chữ đời.
Để được gọi là trưởng thành.
Chúng mình đều quen nhau và lại mặt từ bóng tối.
Từ bóng tối, những lóng tay vói trời. Ngoe nguẩy.
không.
đừng trừng phạt chiếc bóng trên thân.
đừng trừng phạt chiếc bóng trên thân.
đừng trừng phạt chiếc bóng trên thân.
2.
Vậy bóng tối mắc mớ gì liên quan tới Du, Thuận Ánh, và K.? Để bị đưa vào đây nhay đi nhay lại, còn tưởng đâu một vết thương hở. Du cười, vẩy điếu thuốc để tàn bay vào gió. Nhiều khi hắn luôn tưởng mình đang ngồi trên sân thượng ngày xưa để kể câu chuyện hắn đang kể, chứ không phải quán Tùng, dẫn mọi người vào địa phương ký ức mang những màu sắc rực rỡ nhất. Tựa trí nhớ được soi qua kính vạn hoa.
Bóng Tối từng là tên câu lạc bộ thể hình, một câu lạc bộ bé mọn và dị-dạng (lập tức được mô tả bằng từ ngữ này ngay khi nó thoát thai, lời nhận xét thốt ra từ miệng ai không ai còn rõ, có thể là một thầy cô mực thước khả kính nhưng ắt hẳn các đối tượng nghe và nhận thông tin dị-dạng cũng chọn con đường dễ dàng nhất và ngoan đạo nhất như họ vẫn thường hay: không quan tâm. Chớ nói chi hoài nghi) từng nằm khuất nẻo trong danh sách các câu lạc bộ ngoại khóa ở ngôi trường vô danh của năm tháng vô danh. Ta phải công nhận, nhìn chéo sang câu lạc bộ những người thường trực nghĩ bản thân mình là người Chăm thất lạc còn thấy đàng đó đông thành viên hơn và có trang web riêng.
Sao ư? Bạn nghe đúng rồi đó, tai bạn không chơi xỏ hay cố viết cho bạn một vũ trụ song song khác.
Bóng Tối là một câu lạc bộ thể hình.
Sao ư? Nó đìu hiu quạnh vắng thành viên bởi có lẽ nó chưa đủ đặc biệt như nó tưởng. không.
nó đặc biệt đến mức miệng mi muốn văng ra thứ giữa hai chân ba má kẻ thù của mi để nhấn mạnh
nó không nhàm chán như những câu không độ ấm
những câu khiển trách cũ rích đến bạc màu, bạc thể
bạc hình, bạc từng đường tơ kẽ tóc
trong bữa ăn gia đình lúc sáu giờ khi ba mi đã cắm sừng lên đầu má mi hoặc ngược lại.
văng thứ giữa hai chân người không yêu mi. văng nào.
Bóng Tối là một câu lạc bộ thể hình.
Các mi hãy đến đây để tìm ra dòng chảy của chính mình.
Bóng Tối là một câu lạc bộ thể hình.
Chúng ta sẽ không tan vỡ như Icarus.
mình có thắp mấy ngọn bạch lạp cho Icarus không Thuận Ánh?
Thật ra đám đông đã nghĩ gì? Ối dào, nơi để tụi cá biệt hoặc biếng nhác, quể tha ma bắt, chọn đại để ghi danh cho đủ điểm hoạt động văn hóa nhưng thật chất chúng chỉ tìm tới hòng ngủ vùi.
Ở giảng đường vô danh, Bóng Tối không được mọi người quá để ý. Họ lờ đi.
Hoặc hãy nói đó là trò chơi khăm của cuộc đời cứt đái. Như thể một món chính yếu với khẩu phần bự chảng được bê lên vào giờ điểm tâm.
Sai thời điểm. Một trò chơi khăm.
Cái bụng các ngươi đã no căng từ nãy rồi và giờ dạ dày chỉ có ngăn chứa cho những món điểm tâm thật sự thôi. Không ai buồn đụng vào nó, với họ, nó là một món lầm lỡ. bóng tối bé con à, hãy thủy trầm vào thùng nước gạo
Thật chất chúng chỉ tìm tới hòng ngủ vùi, trong quên lãng những vị lai không ngậm một búng nghĩa, hẳn vậy chứ còn cái cứt gì, đám đông ắt nghĩ vậy về những người gia nhập Bóng Tối. Về những người, tỷ như K., Thuận Ánh, và Du.
Bóng Tối không như vậy.
Du rống, các người đã bỏ lỡ món vi cá của đời mình.
Du rống, các người đã đào huyệt, hạ quan, dựng bia-
đặt vòng hoa từ biệt lên mộ chí cho Icarus.
mình có thắp mấy ngọn bạch lạp cho Icarus không Thuận Ánh?
Hút sâu trong tháp ngày xưa
Một nường Bóng Tối khóc đưa thân mình
Cớ sao chàng chặt bóng hình
Xỏa bung cánh gãy tuyệt tình với ta
Bây giờ chàng đã ra ma
Chảy tan thành sáp lìa xa bóng rồi!
Icarus là nường bóng tối
Đích danh nường bóng tối cũng là Icarus
Một chẻ thành hai, vong thân không biết
Cứ ngóng cổ nhìn theo một mặt trời ảo ảnh
Cốc cà phê của quán Tùng dành cho Du hôm nay khuấy nhiều, ‘muốn bỉ bôi hạnh phúc vì bỉ bôi chính là kính trọng, mà mặc lòng, ta, loài người, vẫn nghĩ nhiều đến hạnh phúc như thế’.
3.
Đáng nhẽ ra câu chuyện này đã được khởi sự bằng một sự việc như sau:
mở đầu 1: Du viết thư cho Thuận Ánh để phân trần về bài thơ Trống Vắng của hắn đã bị bóp méo qua lời kể của K.
K. bảo Thuận Ánh đừng vì cái bài thơ cứt đái đó mà thương cảm chi cho Du vì “gã đã muốn thế thì gã nên nhận lấy!” (Du có thể dễ dàng hình dung ra cái nhún vai dửng dưng của K., cũng như vẻ mặt khó ưa.)
K. rống. Đó là kế khổ nhục của Du để giật hết ngó ý của Thuận Ánh về phía gã, không chừa cho K. một tơ lòng nào sao?
Đừng mơ tưởng. Sao K. có thể để mọi chuyện im lắng như nó sẽ là, y đương nhiên giật ngay một trang từ tập phiếu gọi món của nhân viên chạy bàn quán Tàu đường Xá Lợi, bát hủ-tiếu-hồ y chỉ ăn hai ngoạm là thấy đáy, ngồi hí hoáy viết thư ngay cho Thuận Ánh, máu trong người xô như lửa bùng (nét chữ hằn học của K. thì Du mạn phép không hình dung, tốt nhất không nằm trong trí hắn làm gì).
Hẳn K. sẽ không viết được một lời nào tử tế về Du, nhân khi nào y có thể, cơn nói xấu đó sẽ là bão cát tháng Tư (K. sinh tháng Tư) muốn chôn vùi Du ở B’Lao cách đó mấy trăm cây số như vùi một hoang tàn phế tích. Chắc K. nghĩ bằng từng đó hùng hổ hùng hồn y có thể chôn Du ngay được, không trễ nải, điều đó sẽ thành sự thật. K. mong vậy đấy, đầy kính cẩn nghiêm trang. Nhưng chính y đâu biết Thuận Ánh sẽ phản ứng thế nào. Nếu thật sự Du bị chôn.
Những máu những xương của Du. Những da những thịt. Mô, tế bào và phân tử. Hãy đếm đến từng chiếc lông tơ. Sẹo ở môi dưới vì đánh nhau với em trai. Như tử thù truyền kiếp. Vết chai vàng ngà lấm mực từ cây viết. Nụ cười Du tháng Bảy. Vầng trán băn khoăn từ bữa lọt lòng. Dịu dàng bóng tối như nhung. Ôi tất thảy lún xuống sáu tấc đất.
Còn nhớ cách nhà thơ Du Tử Lê ám ảnh với cuối đường đuôi mắt của họa sĩ Lê Tài Điển, ông phải thốt lên rằng mình không đủ khả năng để diễn tả đôi mắt nồng ấm mà xa vắng lẩn khuất u uẩn, khôn tan ấy.
Vậy thì K. cũng muốn dùng lối dụng ngữ tương đương để tả cái cách Thuận Ánh yêu từng thớ thuộc về nơi máu xương kia, lậm đôi mắt giống vị tài tử quá cố kia. Lậm vào không thoát, không buông.
Trong tay K. lúc này đây, tờ phiếu gọi món rợp chữ là chữ, thủ bút của chính mình, dường lại nhìn mình đầy thương cảm, vô ngôn. Thật mỉa mai. Trải qua mấy hồi tàu lượn cảm xúc, vậy mà bằng một cách huyền ảo nào đó, nó chưa bị y bóp nát.
Chỉ là nước không hiểu từ đâu, từ cái lỗ quể quái nào đó chảy ra đã làm thư viết trên tờ phiếu bị nhòe đi đôi chỗ. thử nếm xem. biết đâu là mồ hôi tay.
Thuận Ánh là người lập ra Bóng Tối.
4.
Nếu lửa là khởi thủy cho tất cả, sinh ra ngôi thứ hai là ánh sáng, vậy thì ngôi thứ ba có thể nào là bóng tối được chăng? Trong quá khứ đã nhiều lần Thuận Ánh nghiền ý nghĩ đó ra, ngẫm. Nghiền ý nghĩ đó như nghiền một bức thư tình quá vãng đầy gai. Đối với Thuận Ánh, ý nghĩ đó đáng kể như “tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Ý nghĩ đó đáng kể như thể từ ngày mẹ sinh, Trời đã ghé xuống, giữa hai chân mẹ, bàn bạc điều đó với ta.
Thuận Ánh là người lập ra Bóng Tối.
Dẫn nhập:
Câu lạc bộ thể hình Bóng Tối không giống như các câu lạc bộ thể hình thường thấy. Ở đây không trang bị:
Máy chạy bộ
Máy đạp xe
Máy tập cơ ngực
Máy tập cơ vai
Máy tập cơ tay
Máy tập cơ bụng
Máy tập cơ lưng, xô
Máy tập chân, mông
Máy tập toàn thân
Ghế tập tạ rời
Thanh đòn và bộ tạ các loại
Mục tiêu:
Thả hết bóng tối ra ngoài. Để nường ấy tức bóng tối hiển linh.
Vì sao gọi là nường? Có nhiều trí giả cũng đã phát ngôn rằng nếu sự thật có mang một giọng nói, thì giọng nói đó phải được phát ra từ miệng của một phụ nữ. Hôn ám này là sự thật. Nên mình gọi hôn ám là Nường.
Hơn ai hết Thuận Ánh tin vào lẽ đó. Rất mực, rất mực.
Định hướng và tầm nhìn:
Không nhằn lại bóng tối.
Không nhằn lại bóng tối.
Không nhằn lại bóng tối.
Lấy bóng tối làm tâm. Tin vào những chuyển động cơ thể. Tin vào những dòng chảy của cơ thể. Tin vào đống bùi nhùi bầy nhầy như nước mũi, trong óc và tim bạn. Trong tiếng gọi của Trời khêu bạn lên. Bất kể dưới một dung độ nghiệt ngã và bạo tàn thế nào. Trời gọi bạn hít vào-thở ra ra thơ. Trời gọi bạn nhảy nhảy nhót nhót. Trời gọi bạn khóc ra những nụ cười như tiếng khánh. Trời gọi bạn cười ra những lệ trang đài rải xuống như lông ngỗng nàng Mỵ Châu.
Kích hoạt cơ thể bạn chuyển động. Mùi mồ hôi của bạn. Hãy để nó là một mùi bóng tối nồng đậm cháy trên da bạn rực rỡ.
Hành lý xách tay: Những thủy nguyên trong bạn. Tuyệt đối: Không nhằn lại bóng tối.
Ở đây có gì: “Ở đây bóng tối lên đầy vốc tay”
Số cân cho phép: vô hạn độ.
Hãy thắp mấy ngọn bạch lạp lên cho Icarus nào.
Nếu Icarus vun xới nên một dải đất trong lòng tựa câu lạc bộ Bóng Tối này, chàng đã không phải chết. Chàng lẫn đôi cánh của chàng đã không chảy ra thành sáp, như những ngọn bạch lạp đang thắp cho chàng đây.
Thôi thì thôi thế là thôi
Từ đây vĩnh quyết chia phôi bóng hình
Vinh hiển đâu thấy
Xác thân tan rữa
Ấy là cái giá của sự vụng dại bay khỏi ngục tù bóng tối mà chấp mê bất ngộ không giải hòa với nó. Sau rốt chỉ là sự vỡ tim.
5.
Các ví dụ về bóng tối (1)
tình yêu khoét nơi từng là ngực mày giờ, bùm, một cái lỗ hoắm
người nam dang rộng hai chân bên dưới bàn học để thụ thai nên thơ ca của những điệu nhảy tính nữ, vô tính vì số mệnh đã gắn chặt với thơ ca của những điệu nhảy tính nữ, vô tính / ngực của tim đập nát những diễn đàn bẩn thỉu
Một năm mà tuyến lệ hư thân dễ dãi kẻ những dấu nước mắt, lúc thì nét đứt, lúc lại nét liền
“Viết để quên” “nói ra để giải thoát”
lầm gọi tên một người đã xa vắng trước mặt một người không phải họ; thói quen là một cái miệng biết nhớ
6.
Dòng chảy của cơ thể K. ở câu lạc bộ Bóng Tối khi đó?
Từ ngày gia nhập, K. đã quyết. Cơ thể y, tuôn từ đầu ngón tay này sẽ là ngòi bút thời sự gan góc. Chát đắng. Của một nhà báo sẽ thành cơn ác mộng cho lũ người Homo sapiens bất cẩn ngạo mạn đã dám xâm phạm vào công lý vì sự vô minh. Thuốc đắng giã tật, K. cười khẩy. Bóng tối và K. sẽ nhảy lên đầu những ngọn giáo.
Vậy là K. đã quyết định được, mình sẽ trau dồi vào địa lãnh nào kể từ ngày gia nhập.
Hay có lẽ ta phải lùi mốc thời gian về một thời điểm xa hơn, gọi cho kêu thì là từ thuở xa vắng. Không cụ thể là hồi nào. Mập mờ như một ngày đầy sa mù. Bất quá là một cách gán nghĩa, ồ, chuyện này chẳng đùa được đâu, hoặc cũng có thể là, chuyện này thật cứ như đùa.
Như vốn dĩ đã chẳng có ý nghĩa gì. Mỏng tang như khói thuốc.
Bóng tối bên trong bóng tối.
Bởi uyên nguyên. Là y sẽ không chọn thứ anh trai y sẽ chọn. Ngắn gọn như vậy thôi.
Giả như anh trai y là bác sĩ. Thì y là giáo sư.
Giả như anh trai y mở tiệm bánh mỳ. Thì y cất một quán cà phê.
Anh trai y là người đưa thư. Thì y là tổng đài viên. Có thể y sẽ đi bán bảo hiểm.
Cho nên khi anh trai y chọn làm nhà thơ. K. phải thành nhà báo. Không phải Trời đánh dây thép cho y mách nước hay ban phát chi hết. Y không chọn thứ anh trai y sẽ chọn. Dẫu có như nào thì như.
Thử nhảy cóc đến tương lai khi K. đã trở thành một nhà báo. Sẽ không uổng công mong đợi. Sẽ là vinh hiển.
Ta sẽ được thấy khung cảnh thành tựu của y đối với xã hội không hề nhỏ bé. Y phanh phui những chuyện xấu xa băng hoại này, những chuyện lùm xùm tùm lum tùm la kia của các ông to, bà lớn, bất chấp bản thân sẽ rơi vào mọi tình huống thót tim thót gan, có khi tưởng “thập tử nhất sinh” tới nơi. Nhiều lúc y như con dê nhập đồng không ai ghìm giữ. Không phải con dê thong dong rong chơi cuối trời quên lãng, mà là một con dê đen như bước ra từ trong thần thoại (hoặc giả có lẽ nó đã rơi xuống từ sao Hỏa) nhảy tưng tưng điệu vũ đã vượt quá thời không của nó, tuyệt nhiên không ngừng lại giữa bãi chiến trường. Móng guốc dê chạy tới đâu hoa cỏ sẽ mọc lên từ đó. Bãi chiến trường của chúng ta. Vũng lầy của chúng ta.
Ở tương lai của quá vãng nọ. Không thiếu chi những lần Thuận Ánh mất ngủ lo lắng cho an nguy của K.
K. không rõ đến khi nào thì mình lý giải rốt ráo điều này. Vì sao y cố gắng tới vậy, đốt cháy rực rỡ mọi bóng tối; nhiệt huyết và ngang bướng của y đã làm nên những điều ly kỳ, thật sự giúp ích cho cuộc đời, cho con người lẫn cây cỏ loài vật, cho phe yếu thế của cõi trần ai, dẫu rằng tất cả cũng chỉ bắt nguồn từ một bóng tối khác?
Xa xưa là y không thể nhìn thấy chính mình chọn thứ người không đội trời chung với mình chọn. Túi da này của y. Y sẽ cảm thấy ghê tởm. Y đã không làm được. Một bóng tối ‘non’ như thế y lại không hòa giải được.
Chính thế nên mới mỉa mai thay, trong tương lai của quá vãng ấy, y trở thành một nhà báo xuất sắc. Những giải thưởng, giấy khen. Vài chiếc răng bị đấm gãy trong những lần tác nghiệp. Các hóa đơn viện phí, đơn thuốc. Cồn đỏ, băng gạc. Những thứ đi theo thành công của y cứ nằm phơi xác bừa bãi trong phòng làm việc.
Rõ ràng không có một vị chúa trời nào hết cúi xuống thì thào vào tai ta. Ma quể địa ngục cũng không. Vốn đâu phải trời gọi hay ban phát gì? Hay chăng bao lâu nay y đã tưởng lầm. Vẫn là định mệnh đã chọn cho y? Vẫn là, y đã nhận thức bóng tối, đã giải hòa được với hôn ám?
Nhắc lại, K. luôn đẩy mình vào những tình huống “thập tử nhất sinh”.
Các bóng tối lồng vào nhau, K. thắp chúng lên, lập lòe lửa lựu.
Kể từ sau sự cố hồi nhỏ với anh trai mà y đã kể cho Thuận Ánh, y chỉ truy tìm cảm giác dường cận tử đó. Y muốn sống để được cắn nuốt cảm giác nhức nhối như tự dí súng vào thái dương mình giữa bàn cò quay Nga.
Viên đạn tiếp theo sẽ trao cho người cái gì? Sự sống mới dồi dào nhụa nhầy những những trần gian dưỡng chất như chưa từng tỏ nó vẫn rỉ rả trong người tích tích hằng ngày đêm?
Hay là trao cho một nuối tiếc còn chưa kịp cảm thấy khi túi da này bị tước đoạt, để lại thịt nát xương tan rồi hư vô sẽ ngậm dần, nhấm nuốt,
khi không ai còn thốt tên ngươi
không còn di sản ý thức nào của người ám vào một viên gạch nào của dương thế?
Tờ báo đăng tin một đứa trẻ thiếu thời bị bắt cóc, khi anh trai nó không chạy theo tìm em sau trận cãi vã của hai anh em, liệu có nhà nào còn giữ không? Liệu có thể giữ được đến “trăm năm trong cõi người ta” không? Mà thôi, quên đám giấy lộn ấy đi.
7.
Du, cánh tay khẳng kheo ấn tay trái vào ngực ngăn một cơn ộc ụa vĩnh cửu đến dìm hắn ngậm lệ, mướt mải hàng dặm sông lệ.
Ngày nắng ráo mà quán Tùng bật những bài nhạc ủ ê nẫu nề từ sáng, âm thanh vặn to hơn thường ngày. Trên loa là những người đang cào đàn. Trong tim, Du nhân bản mình lên làm năm, và cho tất cả lũ lượt quỳ bàn giặt, đầu gối tím bầm. Có những chuyện Du tha thứ được cho mình, có những chuyện thì hắn lại không thể. Hắn phải lập biểu theo dõi cảm xúc theo lời khuyên của bác sĩ tâm lý riêng.
Hôm qua một giấc mơ cũ chợt ghé. Từ dạo có lớp da mới trên cổ, kéo dài xuống bả vai phải, Du đã không còn mơ giấc kia mấy nữa. Những đứa trẻ trong đó cứ khóc hoài.
Là một thành viên của câu lạc bộ thể hình Bóng Tối, ít nhất Du đã dần học được cách không chạy trốn khỏi những giấc mơ đặc thù ấy. Những giấc mơ mà mình ở trong hình dáng trẻ con. Chúng từng là ngàn năm ác mộng đối với Du và luôn khiến hắn sợ sệt trối chết. Thời thơ ấu là một nỗi kinh hoàng.
Lắm lúc Du cũng không biết có phải mình đã sinh nhằm ngày mà mặt trăng nào cũng là tàn bạo hay không. Thuở xa vắng, có những bữa dầu một con muỗi thôi cũng làm toàn bộ linh hồn Du đau buốt, thống khổ.
Những đứa trẻ trong đó cứ khóc hoài. Tại sao giấc mơ này còn ghé? Hắn không còn đổ mồ hôi lạnh khi gặp lại “người bạn cũ” này nữa nhưng vẫn thật bất ngờ. Có ai đó đang nhắc lại chuyện cũ chăng?
Dòng chảy cơ thể Du ở câu lạc bộ Bóng Tối khi đó? Chuyện này cũng ngắn gọn thôi.
Du có một người cha hai vợ, nghiệt ngã với con cái. Để phản kháng lại gia đình “danh gia vọng tộc” này, những gì cha bắt hắn làm, hắn sẽ đi ngược tất thảy. Bảo Du theo nghiệp kinh doanh gia đình? Du đốt toàn bộ tiền. Du vùi thân vào cảo thơm. Du chọn cảo thơm vì đó là cái tát điếng người vào mặt một gia tộc kim tiền. Làm khác đi ư? Du làm không được. Nên khi lựa chọn dòng chảy cơ thể ở câu lạc bộ Bóng Tối của Thuận Ánh, Du đã không hề khó khăn gì nơi tâm tưởng. Ngay từ ban sơ đã có câu trả lời rồi.
Du vốn không phải tên hắn. Tên cũ của hắn là Vũ. Sao nào? Hắn đổi tên vì văn hóa đại chúng có ca sĩ hắn ghét tên như thế à? K. móc mỉa cách mà Du từ bỏ tên cũ của mình. Vũ. Vũ. Vũ.. Vũ! Những cơn mưa của hắn thì làm phương hại ai? Mưa a xít chăng hử? Y vẫn muốn chất vấn hắn nhặm lẹ đổi tên cái ngày quen biết Thuận Ánh hòng kéo con mắt Thuận Ánh nhìn về phía hắn, chứ hà cớ gì? Tên ông nội đặt cho hắn? Hắn lấy những lý do quyền lực của ông nội đè gánh lên mẹ hắn khiến hắn tủi hờn muốn khước từ danh phận Nguyên Vũ? Giật rèm ném mẹ hết lý do qua song cửa đi! Hắn muốn sĩ cái chi chi? Hắn có dám nhận là mình đang không thể hiện một tấm Tình Thánh trước mặt Thuận Ánh không? Không đúng không? Đừng nói bóng tối đã nuốt K. rồi vì K. có những ý nghĩ như thế. K. nghĩ thế đấy. Đ.m. những lời xảo biện, [“Du” là ước mong cho em được tự do]? Cứt.
Còn Du sẽ nói gì về K.? Mày khác gì tao khi cố tình đề tên và bút danh viết báo là K.? Tao và mày, những kẻ trồng cả hàng si trước nhà Thuận Ánh ngày còn vác sách lên giảng đường liệu có ai trong hai ta không biết Thuận Ánh xăm tên tiểu thuyết gia Do Thái đó lên người?
Khi chửi Du y có biết nhục không? Trong mắt Du, K. hiện lên cũng đâu khác chi con thiêu thân tuyệt vọng tự cảm ơn cha mẹ thân sinh đã sinh mình mở đầu với ký tự K đó. Ngã vật vào nó như con sói man dã đồng hoang chùng gối tuân phục trước định mệnh, K. chỉ càng mù quáng nơi một ý niệm duy nhất, mình sinh ra dành cho Thuận Ánh. Nói về mù quáng ư? Đừng chửi Du. Đừng.
Khuê ạ, mày là thằng đầu đất.
Một ngày khác ở quán Tùng, Thuận Ánh vừa qua thăm Du, đầu đội mũ trai. Em gọi trà bạc hà. Em hôn hắn một hai ba năm nụ trước khi rời đi. Em nói là em yêu bài thơ Trống Vắng đó, nó có muốn ám bao nhiêu khói thuốc Đà Lạt cũng kệ. Em nhắc lại chuyện quả cam chúng mình ngày xưa, sân thượng ngày gặp nhau. Nên dù hôm nay Thuận Ánh có uống bao nhiêu trà bạc hà thì những nụ hôn khi ở, khi đi của em vẫn ướp vị cam. Trong sát na, cứ như thời môi em vẫn toát vị cam sẽ dài tới vĩnh cửu, trời đất cũng chẳng chuyển mùa. Nó đã nằm ngoài tất cả ấn định của năm, tháng, ngày.
Những nụ hôn còn rơi xuống lớp da mới, trên cổ, kéo dài xuống bả vai phải, mà không biết đó có được gọi là da nữa không. Bằng vào đó, Du biết mọi chuyện sẽ khá hơn.
Hắn phải lập biểu theo dõi cảm xúc. Vì thế hắn ghi chú lên lịch của quán Tùng, “như chương II bản hòa tấu dương cầm số 1 cung mi thứ nọ, ‘cái đáng xấu hổ trong tim trên tay áo của mình’”, rồi giật luôn tờ lịch đó gập làm tư nhét túi quần. Tưởng đâu hắn vừa nghe bài đó sáng nay.
Mà quán Tùng thì có từng bật nhạc cổ điển bao giờ.
(Hết phần I)
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
Hazel
Những lá thư viết lúc 5 giờ sáng
R.
Maria, tớ cần một phòng xưng tội.
--
Maria,
Họ nói rằng nơi này, nơi này này, nó thực sự rất bừa bộn và thậm chí là ghê tởm. Không một ai có thể vừa mắt với thế giới bên ngoài nếu nội tâm vẫn là một mớ hỗ độn. Làm gì có chuyện thu xếp được ở ngoài nếu bên trong còn chẳng gọn gàng nổi. Hãy lo cho cái nhà của mình trước, họ nói như vậy đấy. Trong đấy sẽ có những con quái vật, sẽ có bóng tối. Sẽ có những đồ đã lâu không dùng đến và thậm chí là rác rưởi. Đừng cố gắng lãng mạn hóa nó; bên trong đấy chắc chắn không chỉ là cái nhà kho, đi ra đi vào đôi lần, phủi bụi và lau chùi là xong. Không là cuốn album cũ, lần giở theo từng trang sẽ chỉ nhìn thấy những ký ức đã đóng khung, chỉ sẵn chờ có người hồi tưởng lại chúng. Sạch sẽ tươm tất. Không. Nó ghê tởm như một nhà vệ sinh. Nó bốc mùi như một ống cống. Nó mục rữa như vết thương đã không được rửa ráy và điều trị kịp thời. Đừng lãng mạn việc dọn dẹp này. Sẽ cần cả thuốc tẩy, những chiếc chổi cọ, găng tay cao su và khẩu trang. Những vết thương không được rạch một đường gọn gàng ở một nơi đẹp đẽ và những vết sẹo đã không hình thành ở nơi thuận tiện để chiêm ngưỡng. Chẳng có gì lý tưởng ở đây cả. Nó không phải là một cái bảo tàng. Nó không tồn tại với cơ hội trở thành nghệ thuật. Nó không phải là một tác phẩm điêu khắc dở, nó cũng chẳng phải là bức tranh bị vẽ sai. Rác thải không được xử lý lâu ngày chất chồng sẽ bốc mùi. Và chúng sẽ chẳng bao giờ hóa thạch nổi với một cuộc đời ngắn chưa đến trăm năm của con người.
Chúng ta thực sự sống không đủ dài để có thể quên hết. Chúng ta lại chẳng may mắn để sống ngắn đến mức tất cả những ký ức vẫn còn tươi mới, trong hạn sử dụng và sẽ không lo lắng về việc mục nát và khởi động quá trình bào mòn.
Maria; họ nói rằng nơi này, nơi này này, nếu không biết cách xử lý kịp thời và một cách gọn ghẽ, cả cuộc đời chúng ta đều chỉ là những cơn ác mộng dài và khóc lóc không rõ nguyên nhân.
--
Maria,
Họ nói rằng trong tất cả những đề tài có thể khai thác, tình yêu là khó viết nhất. Không phải vì đề tài đã quá phổ biến, đã quá nhàm; không phải vì đã có quá nhiều kiệt tác và rất khó để tạo ra một kiệt tác khác. Họ nói rằng tình yêu là khó viết nhất vì làm thế nào để thuyết phục được độc giả rằng hai người đang yêu nhau - phải là ánh mắt như thế nào, cử chỉ như thế nào, chuỗi sự kiện ra sao để chứng minh được tình yêu đó. Nhưng tớ thực sự không biết gì khác ngoài tình yêu, tớ cũng không thể thấy gì khác ngoài tình yêu và càng không thể ngừng nghĩ về nó nên tớ vẫn cứ lao vào đề tài ấy.
Maria, dưới ngòi bút của tớ những nhân vật yêu nhau một cách đau khổ. Là tình yêu không đúng thời điểm, là tâm hồn chưa đủ trưởng thành, là sự vênh nhau về trải nghiệm và cả năng lực kiểm soát cảm xúc, là lầm tưởng, là ích kỷ, là cầm tù, là bỏ rơi. Dưới ngòi bút của tớ những nhân vật yêu nhau một cách đương nhiên, họ gặp được nhau trong trời đất rộng lớn này và thực sự chỉ rung động với duy nhất đối phương, nhưng sự không hoàn thiện của loài người là thử thách là lời nguyền là tất cả lý do cho việc họ không có cách nào yêu nhau trong sự toàn vẹn.
Maria, ngòi bút là tạo hóa ngòi bút là Chúa trời, nhưng tớ không thể nào viết ra được con đường thẳng tắp của hạnh phúc; họ vẫn cứ luôn ngã gục trong luân lý gẫy gập của lòng người, họ vẫn sẽ có một kết thúc có hậu nhưng chỉ bởi loài người nếu không có niềm tin vào một tương lai đẹp đẽ thì sẽ không thể nào hoàn thiện chặng đường nhân sinh.
Maria, dưới ngòi bút của tớ các nhân vật luôn yêu nhau và đều yêu nhau không đúng thời điểm không đúng thời cuộc không đúng cách thức. Nhưng họ yêu nhau.
Còn chúng ta bên ngoài vì sao với hàng vạn hàng trăm hàng ngàn lời hay ý đẹp, ngay cả việc rung động cũng không thể chân thành nổi?
--
Maria,
Nơi chốn là nền tảng của sự tồn tại của mỗi chúng ta. Nếu tớ ở đây, tớ sẽ không ở đấy. Vì thế mỗi thời mỗi khắc tớ đều nghiêm túc để tâm tới nơi mình đang ở và người mình đang gặp. Tớ không dám phản bội, cho dù cái phản bội ấy có thể được đánh tráo bằng một vẻ đẹp thật thơ ca và tớ thậm chí có thể lựa chọn tảng lờ nó; tớ không dám phản bội, việc mình đã từ bỏ tất cả những nơi chốn khác mà mình đã có thể ở để hiện diện ở nơi này ngay lúc này, ấy vậy mà tớ vẫn không chung thủy với nó. Tớ không dám phản bội, cái sự thật là tớ đã rời đi, bất chấp việc cậu và các cậu và chúng ta đều cho rằng tớ nên ở lại. Tớ không dám phản bội, tất cả những cái đáng-lẽ-ra, chọn lấy những cái rốt-cuộc-thì, tớ phải nhắc nhở mình nghiêm túc để tâm bởi chỉ trong sự để tâm ấy tớ mới có thể chứa đựng được toàn bộ sức nặng của cuộc đời tớ đã không chọn cho tất cả chúng ta.
Maria, chúng ta đã yêu nhau ở dưới nắng trưa hè gắt gỏng tại thành phố phẳng lỳ trên những con đường nhựa được quy hoạch đẹp đẽ. Chúng ta đã yêu nhau vào lúc hai giờ sáng và tìm thấy ý nghĩa tuổi trẻ trong khả năng phân biệt mùi cồn và những tiếng đá đổ, tiếng cụng ly, mùi thơm của cánh gà rán và nước hoa bán tràn ngập trong các khu trung tâm thương mại. Chúng ta đã yêu nhau trong lời bài hát nhạc pop chạy trên radio của chiếc xe hơi trả góp, trong những hóa đơn điện nước, hợp đồng thuê nhà và những chiếc thẻ tín dụng. Chúng ta đã yêu nhau với tâm thế không cần biết quá khứ và cũng không mặn mà với tương lai; chúng ta tỉnh dạy vào lúc tám giờ sáng mà không nhớ đến nụ hôn cuồng nhiệt mới cách đấy mấy tiếng và lặp lại toàn bộ sự ngạo nghễ đầy sức sống vào lúc năm giờ chiều và lại quên mất mình là ai trong tiếng karaoke và ánh đèn lúc mười một giờ đêm. Maria, chúng ta đã giày vò nhau trong cửa hàng phở không nấu nổi một bát phở ra hồn và lại giày vò nhau trên những bãi đậu xe không đủ an toàn để lang thang khi mặt trời chưa ló rạng. Chúng ta đã giày vò nhau trên những chặng đường cao tốc được tiêu chuẩn hóa và những cuốc xe liên bang không cần nghĩ ngợi về bản đồ chỉ đường. Chúng ta đã cùng khóc cùng cười và cùng không làm gì cả; chúng ta đã chỉ cách nhau độ dài một cánh tay và luôn có thể nhìn thấy cô đơn trong mắt của đối phương.
Tất cả những điều đấy, tớ đã đánh đổi để ngồi đây, trong lòng thành phố hỗn độn của kiến trúc Pháp thuộc và những vết thương đô thị hóa vẫn rỉ máu mỗi ngày, tại những quán cà phê xuất hiện trong một đêm và biến mất cũng trong một đêm, tại những bữa ăn xã giao và những cốc rượu không vô tư, tại bậc thềm chỉ có ý nghĩa với thời niên thiếu và tại những bờ hồ không có dấu chân của thanh xuân. Ngồi ở nơi mà mỗi người tớ gặp mỗi lời tớ nói và mỗi một kết nối mới đều nhắc nhở rằng điều này tốt nhất là nên xứng đáng với tất cả những gì mày đã từ bỏ, rằng hãy thật sự yêu chúng bởi nếu không yêu chúng thì sức nặng của lựa chọn thật sự quá nan kham để gánh vác, rằng nghiêm túc đối đãi nghiêm túc để tâm là con đường duy nhất thoát khỏi dằn vặt. Một dằn vặt không có thật, như nỗi cô đơn chúng ta đã nhìn thấy trong mắt của đối phương khi ngồi cách nhau một cánh tay, như nụ hôn chúng ta đã trao cho nhau vào lúc hai giờ sáng đầy choáng váng từ tác dụng của cồn, như khoảnh khắc tớ bước lên máy bay, khi ngoảnh lại nhìn anh ấy và đã cho rằng tình yêu của chúng tớ sẽ còn vương vấn thêm được vài năm nữa bất chấp sự ở lại và sự rời đi.
Nhưng Maria. Nếu tớ ở đây, tớ sẽ không ở đấy.
--
Maria,
Vương Gia Vệ từng viết, “Ký ức nào cũng là những dấu lệ rơi.”. Khi tớ tỉnh dậy, không hiểu vì sao lại đẫm nước mắt; tỉnh rượu, không hiểu vì sao trong tim tất thảy cái gì cũng không có - không mong muốn, không mơ ước, không có cả nguyên tắc và sự chỉn chu của tuổi trưởng thành. Đâu đó trong ngày nhìn lên tờ lịch, bất giác ngỡ ngàng. Tựa như chỉ có cơ thể vẫn còn nhớ. Vẫn sẽ luôn nhớ. Bản ngã đã sớm quên, ngơ ngác trong thực tại bỗng nhiên rạn vỡ.
Tớ bỗng nhận ra. Những kẻ như chúng ta, tuỳ tiện sống cũng vẫn sẽ văn thơ, thờ ơ tồn tại vẫn sẽ nhìn thấy rất nhiều thứ. Không phải vì ảo tưởng về một thước phim điện ảnh, mà vì ở giữa những khoảng lặng liền sẽ nghe thấy trong lòng dấy lên cảm xúc, người còn sống thì tốt biết mấy. Mỗi một ngày đều là một điếu thuốc, châm lên nhìn màu đỏ rực đau nhói, không cách nào ngừng lại được quá trình cháy tàn. Tớ cùng người làm quyến thuộc 18 năm, thì chia tay nhau đã 16 năm rồi. Hôm nay Hà Nội hửng nắng; ngày đó mưa rơi thấm đẫm những nụ cười vốn ráo hoảnh. Người còn sống thì tốt biết bao, người biết không? Như vậy những kẻ như chúng ta liền sẽ không biết đáy lòng lại ở nơi sâu như thế, nước mắt lại có thể rơi nhiều như vậy, đêm nằm mộng lại có thể thật đến chừng đó, những vết sẹo hoá ra sẽ không lành lại, tháng năm không ngờ dài đằng đẵng đến thế.
--
Maria,
Tớ bỗng nghĩ đến. Tớ không biết một con người có thể cô đơn đến chừng nào; nhưng nỗi cô đơn kéo dài hơn nửa thế kỷ có lẽ là quá dài. Người phụ nữ ấy có 17 năm được nuông chiều, 10 năm ngây thơ, lại thêm 10 năm ngạo kiều mà vật lộn với cuộc sống, và 30 năm tiếp theo nửa tỉnh nửa mê nhìn hồng trần mạt thế. Có lẽ ngoại trừ cái 17 năm đầu tiên ấy, mọi sự sau này tất thảy đều là mộng vỡ. Hoặc là ngoại trừ cái 17 năm đầu tiên ấy, mọi sự sau này tất thảy đều là tiếc nuối cho một cõi tạm quá nhiều u mê.
--
Maria,
Tớ bỗng nhận ra. Tớ dường như chưa từng chụp ảnh những người tình cũ; nhưng lại lưu bản ghi âm giọng hát của em năm đó. Hôm nay vô tình mở ra nghe lại; buổi chiều chưa tắt nắng của tuổi trẻ có tiếng em hát, có tiếng người ồn ào, có chúng tớ khi vẫn còn bên nhau.
--
Maria,
Loài người là sinh vật có khái niệm về quá khứ và tất cả những đã-xảy-ra, có tưởng tượng về tương lai và niềm hy vọng về những có-thể-là. Loài người đồng thời nhìn về quá khứ và hối tiếc với tất cả những đã-có-thể-là, và đồng thời hướng về tương lai và đau thương vì những sẽ-không-xảy-ra. Maria, tớ hoảng hốt vì đã không còn nhớ được khuôn mặt của những người mình đã gặp, không thực sự nhớ được, và mỗi một ngày mới diễn ra và những sự kiện quý báu nảy sinh đều khiến tớ sợ hãi vì chúng sẽ đè lên các mảnh ký ức đã qua, tớ sợ hạnh phúc và cả nỗi băn khoăn và những điều trân trọng trong hiện tại sẽ khiến cho những quý giá đã qua mỗi lúc một mờ nhạt. Những ô cửa sổ đang trở nên đồng nhất và tớ chỉ có thể miễn cưỡng mới phân biệt được cảnh sắc bên ngoài nào thuộc về câu chuyện nào bên trong. Maria, tớ không còn nhớ chúng ta đã nói những chuyện gì trong cả quá trình trưởng thành nơi đất người khi còn bên nhau. Tớ không còn nhớ cảm giác của mặt đất dưới chân và ánh mặt trời gắt gỏng trên đầu, không còn nhớ cái lạnh cắt da và không còn nhớ mặt biển đầy sương mù không cho nhìn thấy ánh dương ngày mới. Maria, tớ hôm qua đọc nhật ký mới hoảng hốt nghĩ tới đã từng có một Jenny trong đời, ngoài Linh và Johnny còn có Daniel, có một đứa trẻ tớ đã nhìn nó lớn lên và có một cô gái tớ đã nhìn thấy đánh mất bản thân mỗi ngày, tớ đã không còn nhớ được tên của phân nửa những người vốn dĩ mỗi ngày đều gặp nhau ở bàn rượu và những menu đồ ăn cổ quái đã từng thuộc làu không sai lệch kể cả thứ tự. Maria. Con đường nơi chúng ta đã từng lái xe qua cả sáu năm quen biết, tớ không còn nhớ đường cung của nó nữa.
Maria, hiện tại của tớ không có gì gợi nhớ lại những điều đã qua và ngay cả tớ cũng đã không còn là phiên bản ngày trước. Maria, bạn của tớ đã đến thành phố nơi thanh xuân chúng ta đã diễn ra và cô ấy đã đi qua những trục đường ấy thứ thời tiết ấy và những nơi chốn ấy nhưng không gian ký ức là không gian cá nhân không thể nào bước vào. Maria, hiện tại xinh đẹp ngay lúc này càng nhắc nhở tớ rằng hàng vạn phiên bản tương lai đã có thể đến nhất định sẽ không đến, tất cả những điều kiện cần và đủ đều không còn. Maria, loài người thật tham lam, cho dù có khả năng quay về trước tiến về sau hay đắm chìm trong hiện tại thì vẫn luôn luôn, ở một ngách nào đó của tâm trí và góc nào đó của trái tim, ở tận cùng của hạnh phúc và đáy cùng của đau khổ, con người vẫn cứ mong ngóng một khả năng, một tiềm năng, một xác suất. Con người vẫn muốn đập vỡ giới hạn để sở hữu được tất thảy mọi thứ cùng lúc, đồng thời, ngay lập tức, không phải lựa lần, không phải trả giá.
--
Maria,
Tất cả những ký ức của người phụ nữ ấy đều đã bị bóp méo, đều đã bị chắp vá, đều có sự giả tạo. Nếu không làm thế, có lẽ bà ấy sẽ không thể có niềm tin sống tiếp. Cũng có thể nếu không làm thế, bà ấy sẽ hối hận vì hệ giá trị mà mình đeo đuổi cả một đời người, bảy mươi năm bỗng chốc chỉ còn là một bàn cờ bày sai.
Maria, ký ức của tớ liệu còn bao nhiêu phần là sự thật?
--
Maria,
Tớ cần một phòng xưng tội.
Tôi ru em Hà Nội - alternative version
Đăng Hiếu - Trần Minh
Vô đề
Hùng đốp
Vô đề 8
Thơ này chẳng phải thơ ta
Ta kia nào phải ta giờ chiêm bao
Kẻ kia ôm nhớ dạt dào
Ôm sầu bể lớn, vời cao mây trời
Ta nay cám cảnh buông mành
Buồn chôn một cõi, lòng dành chốn riêng
Người đi kẻ đến sao đành
Dồn ta tới cảnh mù khơi não nùng
Bốn phương tám hướng mông lung
Đời còn quạnh quẽ một vùng chon von…
Gặp tiên sinh
Người về trò chuyện chốn chiêm bao,
Đầu xanh tóc trắng vẫy tay chào,
Rượu ngon vài nậm say tìm đến,
Thuận lời người mới dạy ý cao.
Một đời nghiên bút một đời khốn,
Vò đầu bứt tóc tìm chốn khôn,
Điên tam đảo tứ vì triết thuyết,
Tìm sao chẳng thấy chốn hằng tồn.
Một đời lãng du một đời mù,
Đường băm sáu ngả để chu du,
Mù sa che khuất sao tìm thấy,
Nẻo về gần gũi cõi thiên thu.
Một tâm hướng thế một tâm sầu,
Lòng ôm trăm mối chuyện đâu đâu,
Thanh tâm tịnh nội thân nhẹ bỗng,
Có cứ gì đâu sắc áo nâu.
Một lòng buông xả một đời vui,
Bờ vai trút hết gánh bùi ngùi,
Một hồn hướng một tiên tìm tới,
Một đời sống cũng đến thế thôi.
Người giờ đã ngự khắp ngàn mây,
Còn tôi lạc lõng chốn đất này,
Một lòng mong hiểu lời dạy nhắc,
Tâm tình cõi sống dịu đắng cay…
Chuyện kể những bàn tay
Ngoài hiên vắng
Mưa xuân rơi tí tách
Bỗng nhớ hoài
Hình bóng những bàn tay
Bàn tay nhỏ của trẻ thơ cất tiếng
Với bóng cha, tìm bóng mẹ thiết tha
Vẽ nụ cười tỏa rạng sắc mẹ cha
Màu ấm cúng của gia đình nhỏ bé
Tay bối rối …
…. Khẽ nắm
Bàn tay ai
Của uyên ương đang lửa nồng tình ái
Hay bàn tay mang mối tình oan trái
Để tay xa với bàn tay nghìn trùng.
Bàn tay gầy của những người đã mất
Thớ gân xanh chẳng chút máu hồng đào
Vết thương nhỏ mà sắc lạnh lưỡi dao
Vệt khổ đau của sinh ly tử biệt
Bàn tay khô héo úa vì năm tháng
Của một đời lam lũ sống vì nhau
Dắt bàn tay qua kiếp sống khổ đau
Tìm về chốn của uyên ương lạc phúc
Rồi cứ thế bàn tay với bàn tay
Tay cứ nắm đừng buông nhau nữa nhé
Cứ nắm mãi dù lời tôi thôi kể
Câu chuyện kể…
…về những…
…bàn tay…
D i e t v o n g / D o i t h o a i
Chu Thế Quân
Diệt vong
Những khi im lặng, tôi thấy mình chắc nịch. Nhưng khi cất tiếng, tôi thấy mình trống không. Nhưng tôi sẽ cất tiếng. Nếu tôi không phải chịu cảnh trống không, làm sao tôi biết mình chưa từng chắc nịch. Cái trống không đó không khiến tôi rỗng tuếch, mà ngược lại giúp tôi nhìn rõ mình hơn, để khi im lặng, tôi tiếp tục đào sâu hơn và lại chắc nịch được hơn nữa. Đào vào những nơi làm tôi bế tắc, làm tôi tức giận, khai phá và mở rộng chiều sâu trong những góc tủi nhục của mình. Chỉ có điều sau mỗi lần cất tiếng, tôi đều phải hét to hơn, dần dần trở thành gào thét. Bởi vì cái không gian bao quanh tôi cũng ngày một bát ngát, người đối diện tôi cũng ngày càng cách xa, không gào thét không được. Vậy mà dù có gào thét bao nhiêu, họ cũng chỉ ồ, à, ha, hả. Chưa từng nghe họ nói không, có bao giờ, có vẻ tại họ sợ cái đúng, sai. Tôi lại trở lại cái chốn quạnh hiu, làm tim mình đau đớn. Nhưng những cái chắc nịch trong tôi nào chịu ngồi yên, chúng cứ đay nghiến cứa vào tôi, bắt tôi phải có những đêm dài mất ngủ. Đã thế tôi phải ném chúng ra ngoài. Đi đi, đi mà tìm cái trống rỗng, mà lấp vào đấy. Ta sẽ viết ra, để cùng chúng mi diệt vong một lần. Mặc dù cũng chẳng khiến mình bớt quạnh hiu hơn, nhưng có thế mới tạm yên lòng được.
Đối thoại
Vượt lên những giao tiếp đời thường, đối thoại đòi hỏi chủ đề, môi trường, ý tưởng, sáng tạo. Đối thoại giúp cho tôi biết lắng nghe, biết suy nghĩ, tìm tòi. Quan trọng hơn là từ đó, đập bỏ được nhưng định kiến, tư tưởng trong tôi. Đập đi để nó không ngừng được lớn lên, đâm chồi nảy lộc trong thế giới tinh thần. Những đối thoại này thậm chí không cần hiện diện của vai người nói, không cần lời thoại. Nghĩa là, người nói chuyện với ta không nhất thiết phải là con người bằng xương bằng thịt ngồi trước mặt ta. Chẳng hạn, khi tôi xem phim, tôi đối thoại với đạo diễn, người triết gia bạn tôi, tác phẩm điện ảnh của anh là môi trường đối thoại cho chúng ta. Tôi xem nó và không ngừng nghĩ suy tìm hiểu tư tưởng của anh, nhìn lại mình và đối chứng tư tưởng của mình với anh. Qua đó, những tư tưởng của tôi có dịp được đem ra cho anh soi chiếu, và gieo vào mảnh đất tinh thần của tôi những mầm hoa mới. Tôi muốn đối thoại với tình yêu của mình. Tôi quan tâm và cầu khẩn câu trả lời của nàng cũng như cách nàng quan tâm tôi. Vượt lên phạm trù giao tiếp chi toàn câu từ tẻ nhạt và cứng đờ, ngôn ngữ của đối thoại đến từ ánh mắt, giọng nói, hay đến từ những cảm thông tin tưởng tôi dành cho nàng mặc dù chúng ta chưa từng gặp mặt. Trên bước đường của mỗi người với cuộc đời mình, chỉ cần tôi biết người vẫn đang ở đó tiến bước chông gai, nhưng người vẫn phải đi tiếp. Tôi tin tưởng và mừng vui. Người không chịu đối thoại thì sao có thể thay đổi lý tưởng của mình. Anh ta sẽ coi lý tưởng của mình là cái gì chân lý, anh ta chẳng cần muốn đối thoại với ai. Nhưng một chân lý chỉ là cái thứ tri thức kiện tính, cứng đơ và tẻ nhạt. Như chân lý Mặt trời mọc ở đằng đông, Mặt trăng quay quanh Trái đất, và Trái đất quay quanh Mặt trời vậy. Tôi không có ý coi thường những chân lý khoa học, chúng là thứ tri thức kiện tính, ta phải trang bị khi đối mặt với cuộc đời. Nhưng chúng không phải lý tưởng tin thần cho ta sống. Một lý tưởng mà so ra chỉ như một thứ đồ vật do mình sở hữu, cố chấp ôm như của quý. Và rồi thứ đồ vật chân lý đó từ việc làm trang sức cho anh, rồi trở thành ông chủ cai trị đầu óc anh. Anh thành nô lệ mà không hay biết, đã thế lại tiếp tục giở ý định cai trị người khác. Tôi muốn tránh né cái giao tiếp đời thường, vì thấy chẳng có chi cho tôi cảm thông, dốc lòng. Nhưng từ giao tiếp mới có được đối thoại. Vấn đề là sao tha nhân cứ sa đà vào giao tiếp quá. Có lẽ vì đối thoại có mặt hại sao. Hẳn là thế thật. Bản tính con người vẫn có lắm lúc muốn mình là kẻ đúng, cái chân lý của anh ta bảo anh ta phải cai trị tôi, rồi tôi cũng không hay biết mà đem cái trang sức của mình ra đấu với anh ta, cái thứ mà tôi tưởng đã vứt được đi rồi. Thế là thay vì thông giao, lại thành một cuộc sứt mẻ. Điều này bao lần khiến tôi cảm thấy rỗng không, tức giận. Thế là tôi mới tránh giao tiếp đi là hơn, nên chăng? Để được đối thoại, có chăng cứ nên trực tiếp đến gặp nó, tìm kiếm nó trong nghệ thuật, thơ ca, văn chương, điện ảnh. Hẹn gặp nàng ở mảnh đất thần tiên ấy. Ở đó, tôi sẽ không giao tiếp, mà sẽ đối thoại một tiếng: ‘’Chào, em dạo này có…’’ Nỗi cô độc hiện hữu của con người đến từ đây sao. Thật mỉa mai quá. Tôi mỉa mai mình mà vẫn không cười nổi hai từ ha ha.
Chẳng một ai nghe Tiếng mùa xa lạ
Vũ Hương
Đừng làm nhau đau
Tiếng trưa gọi tình
Đừng làm đau nhau
Tim nồng mật đượm
Ở bờ bên kia
Hái rau lượm quả
Ở bờ bên đây
Máu thịt cùng da
Chẳng một ai nghe
Tiếng mùa xa lạ
Tay nắm tay buông
Ba đào dạo bước
Bướm say bướm lượn
Chim hót chim kêu
Thảng thót cơn mê
Lạc loài máu mủ
Một giấc chiêm bao
Nhiễu phủ bầu thương